Bộ Chính trị có nghị quyết mới về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2045 khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở tại Việt Nam
Theo Nghị quyết, sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng. Tỉ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế…
Bộ Chính trị khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.
Quan điểm của Bộ Chính trị là phải chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Đồng thời lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp lãnh đạo hơn 40 tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế lớn là thành viên của Hội đồng Kinh doanh châu Á, ngày 26-3. Ảnh: NHÂN DÂN
Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài.
Cùng đó cũng sẽ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu.
Bảo đảm cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa các bên…
Về mục tiêu, Nghị quyết của Bộ Chính trị nêu rõ đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 200-300 tỉ USD (40-50 tỉ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỉ USD (30-40 tỉ USD/năm).
75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại. Tăng 30% tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam. Thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tỉ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%. Phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
Tỉ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỉ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng
Nghị quyết 10 đã nêu bảy nhóm giải pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu nêu trên.
Đáng chú ý, Bộ Chính trị yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, điều hành theo kết quả. Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng, kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Song song đó là hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án.
Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược; xác định một số nhóm lĩnh vực, công nghệ chiến lược ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn..
Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực như Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các mô hình đổi mới sáng tạo và các không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới.
Nghị quyết cũng yêu cầu phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược.
Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn. Xác định một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài như công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và chuỗi khối…
Xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, gắn với yêu cầu kết quả thực hiện; quy trình thủ tục đầu tư đặc thù, riêng biệt; cơ chế xử lý các khó khăn, vướng mắc tập trung, nhanh, linh hoạt.
Ưu tiên thu hút các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi. Tập trung phát triển một số vùng động lực, hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành và các không gian phát triển mới gắn với lợi thế vị trí, đầu mối giao thông, logistics, hạ tầng số, năng lượng, đô thị lớn và liên kết vùng để thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
Ngoài ra còn có các nhiệm vụ, giải pháp như thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Tăng cường các biện pháp phòng, chống chuyển giá, gian lận thương mại, xuất xứ hàng hóa, giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư…
Về tổ chức thực hiện, Đảng ủy Chính phủ được giao lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết.
Đảng ủy các bộ, ngành, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động với nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp, phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.











