Bộ KH&CN ban hành cơ chế đặc thù cho nghiên cứu công nghệ chiến lược
Ngày 1/8/2026, Bộ KH&CN ban hành Thông tư số 49 quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Thông tư tạo lập cơ chế đặc thù cho một loại hình nhiệm vụ có yêu cầu khác biệt so với nhiệm vụ khoa học và công nghệ thông thường: hướng tới làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược; có mức độ phức tạp và rủi ro cao; đòi hỏi khả năng tích hợp hệ thống, huy động nhân lực trình độ cao và đưa kết quả nghiên cứu đến sản xuất, chuyển giao, thương mại hóa.
Quản lý theo gói công việc và mốc đánh giá
Một điểm mới có tính nền tảng là phương thức lập dự toán và quản lý kinh phí theo gói công việc (Work Package) và mốc đánh giá (Milestone).

Mỗi gói công việc xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Dự toán của toàn nhiệm vụ được hình thành từ các gói công việc và tổng hợp theo các mốc đánh giá.
Điều này giúp trả lời rõ 3 câu hỏi trong quản trị nhiệm vụ: nguồn lực được sử dụng để làm gì; phải tạo ra sản phẩm gì; và tại thời điểm nào kết quả đó phải được kiểm chứng.
Cơ chế này đưa quản lý tài chính tiến gần hơn với quy trình phát triển công nghệ, thay vì để tiến độ khoa học phải chạy theo quy trình thanh toán hành chính.
Khoán chi theo mốc: mốc đánh giá là điểm quyết định “Go/No-Go”
Kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí và quyết định cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Đối với mốc áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, khi kết quả tại mốc đánh giá được Hội đồng chuyên môn xác nhận đạt yêu cầu, đây là căn cứ quan trọng để làm thủ tục nghiệm thu và giải ngân kinh phí theo quy định.
Mốc đánh giá đồng thời là điểm kiểm soát để xem xét việc tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng sớm theo kết quả thực tế - cách tiếp cận thường được diễn đạt là “Go/No-Go”. Trường hợp kết quả tại mốc không đáp ứng yêu cầu, việc cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo hoặc tiếp tục phương án nghiên cứu được xem xét theo quy định. Qua đó, nguồn lực có thể được tập trung cho những hướng nghiên cứu có kết quả và triển vọng, hạn chế kéo dài phương án không còn phù hợp.
Như vậy, khoán chi theo mốc không chỉ nhằm đơn giản hóa thủ tục thanh toán mà còn tạo công cụ quản trị danh mục nhiệm vụ theo kết quả: trao quyền cho tổ chức nghiên cứu trong quá trình thực hiện, đồng thời duy trì các điểm kiểm soát rõ ràng để bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Cho phép nhiều phương án nghiên cứu cùng giải một bài toán lớn
Nghiên cứu công nghệ mới không phải lúc nào cũng có thể biết trước phương án nào sẽ thành công. Vì vậy, đối với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, cơ chế mới cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập, cùng hướng tới một mục tiêu, yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá.
Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng, thanh toán và quyết toán riêng; được đánh giá, sàng lọc theo kết quả tại từng mốc.
Phương án không còn phù hợp có thể được chấm dứt; phần kinh phí tương ứng với các mốc đã hoàn thành được thanh toán, quyết toán theo quy định và không tiếp tục bố trí ngân sách cho các mốc chưa thực hiện.
Cơ chế này tạo điều kiện thử nghiệm nhiều con đường công nghệ nhưng không dàn trải nguồn lực đến cuối nhiệm vụ, qua đó tăng khả năng lựa chọn được giải pháp tốt hơn trên cơ sở kết quả thực tế.
Bố trí kinh phí dự phòng để chủ động xử lý các phát sinh
Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, kinh phí dự phòng được lập để xử lý các phát sinh trong quá trình thực hiện theo quy định. Việc lập dự phòng căn cứ nội dung công việc, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ thực hiện của từng gói công việc và các yếu tố có thể phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Mức kinh phí dự phòng do tổ chức chủ trì đề xuất, được cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét, quyết định nhưng không vượt quá 10% tổng dự toán kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Khoản kinh phí này được lập, thẩm định và phê duyệt cùng với dự toán nhiệm vụ.
Việc sử dụng kinh phí dự phòng phải có căn cứ, được tổ chức chủ trì thuyết minh, chịu trách nhiệm và thực hiện đối với các trường hợp thuộc phạm vi pháp luật quy định. Kinh phí được cấp trong phạm vi mức dự phòng đã được phê duyệt trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì và quyết định của cơ quan quản lý nhiệm vụ. Cơ chế này tạo dư địa để xử lý kịp thời các phát sinh hợp pháp, góp phần hạn chế gián đoạn tiến độ nghiên cứu và phát triển công nghệ.



![[VIDEO] Việt Nam đầu tư mạnh cho hạ tầng công nghệ chiến lược](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_08_12_232_55816244/cb553b217e6a9734ce7b.jpg)







