Bộ trưởng Tài chính: Tăng trưởng phải để người dân thụ hưởng thành quả
Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu gắn tăng trưởng cao với kiểm soát lạm phát, đa dạng hóa nguồn vốn và nâng hiệu quả đầu tư; đồng thời làm rõ nguyên nhân thu ngân sách vượt dự toán, chuyển nguồn lớn và giải ngân đầu tư công chậm.

Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Media Quốc hội.
Sáng 31/10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình các vấn đề đại biểu quan tâm trong phiên thảo luận về kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước và đầu tư công.
Kiểm soát lạm phát để người dân thụ hưởng thành quả tăng trưởng
Về tăng trưởng và giá cả, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, kinh tế 9 tháng năm 2026 tăng trưởng 9,01%, trong khi lạm phát ở mức 4,52%. Theo Bộ trưởng, đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh xung đột địa chính trị tác động mạnh đến giá dầu, gây gián đoạn nguồn cung và ảnh hưởng hoạt động của các cơ sở lọc hóa dầu.
Những biến động này tạo sức ép lên giá cả trong nước. Để kiểm soát lạm phát, chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, chặt chẽ, bảo đảm ổn định tỷ giá và lãi suất; đồng thời, chính sách tài khóa được triển khai để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân. Trong năm, quy mô miễn, giảm thuế khoảng 240.000 tỷ đồng và gia hạn thuế khoảng 120.000 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 360.000 tỷ đồng.
Về các giải pháp tiếp theo, Bộ trưởng cho biết Bộ Tài chính sẽ báo cáo phương án giá điện; đồng thời đã báo cáo Chính phủ tiếp tục lùi thời điểm thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Theo phương án Bộ trưởng nêu, toàn bộ thuế đối với xăng dầu được đưa về 0%, với quy mô hỗ trợ thêm khoảng 4.000 tỷ đồng.
Bộ trưởng nhấn mạnh quan điểm điều hành là tăng trưởng phải đi cùng việc người dân được thụ hưởng thành quả. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng trên 10% phải gắn với kiểm soát lạm phát quanh 4,5%, hạn chế sức ép giá cả đối với đời sống.
Huy động thêm nguồn lực, đồng thời nâng hiệu quả sử dụng vốn
Về nguồn lực phát triển, Bộ trưởng cho biết kế hoạch tài chính 5 năm 2026 - 2030 đặt ra nhu cầu vốn rất lớn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng trên 10%. Tổng đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP; mức huy động nguồn lực cho tăng trưởng tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021 - 2025.
Cùng với huy động thêm vốn, yêu cầu đặt ra là nâng hiệu quả đầu tư, đưa hệ số ICOR về khoảng 4,5 - 4,8. Đây là chỉ số phản ánh lượng vốn đầu tư cần thiết để tạo thêm một đơn vị tăng trưởng; giảm hệ số này đồng nghĩa với sử dụng vốn hiệu quả hơn.
Trước băn khoăn của đại biểu về sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã nhận diện vấn đề từ sớm. Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán được triển khai nhằm mở rộng các kênh huy động vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.
Thông tin về kết quả bước đầu, Bộ trưởng cho biết huy động vốn qua thị trường chứng khoán trong 9 tháng năm 2026 tăng 15% so với cùng kỳ. Từ cuối năm 2025 đến nay, 10 doanh nghiệp chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng đã huy động hơn 60.000 tỷ đồng.
Đến năm 2030, chiến lược đặt mục tiêu vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, so với khoảng 90% hiện nay; quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 50% GDP và thị trường sản phẩm phái sinh khoảng 20 - 30% GDP.
Để thực hiện, Bộ trưởng nêu ba hướng giải pháp. Trước hết là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm công khai, minh bạch để thu hút nhà đầu tư. Tiếp đó là đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, khắc phục tình trạng cổ phần tập trung vào số ít cổ đông, mở rộng cơ hội tham gia của nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp để nhà đầu tư nhỏ lẻ có thêm lựa chọn gửi gắm nguồn vốn.
"Việc nâng hạng thị trường và tiếp tục sửa Luật Chứng khoán là những bước triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu này," Bộ trưởng nêu rõ.
Làm rõ nguyên nhân thu ngân sách vượt dự toán
Về chất lượng lập dự toán, Bộ trưởng thừa nhận công tác phân tích, dự báo còn hạn chế. Để dự toán sát hơn với thực tế, ngành tài chính sẽ tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin, nâng chất lượng phân tích dữ liệu và dự báo nguồn thu.
Bên cạnh hạn chế này, chênh lệch giữa dự toán và thực hiện còn đến từ những yếu tố khó lường trước. Năm 2025, các dự báo tăng trưởng chỉ quanh 5,5 - 6,5%, trong khi thực tế đạt 8,02%. Kết quả tăng trưởng cao hơn dự kiến đã góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách.
Việc thực hiện Luật Đất đai năm 2024 cũng tạo tác động lớn đến nguồn thu từ đất. Ngoài ra, ngân sách còn phát sinh các khoản thu từ chênh lệch thu chi của ngân hàng, bán vốn Nhà nước và cổ tức. Theo số liệu Bộ trưởng nêu, thu ngân sách năm 2025 vượt dự toán 36%, tăng 34% so với năm trước. Riêng thu tiền sử dụng đất đạt hơn 700.000 tỷ đồng, tăng khoảng 98%.
Ba nguyên nhân khiến chuyển nguồn lên tới 1,8 triệu tỷ đồng
Đối với số chuyển nguồn lớn, Bộ trưởng cho biết báo cáo quyết toán năm 2025 ghi nhận khoảng 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 40% dự toán. Đây là kinh phí được chuyển sang năm sau để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chi.
Bộ trưởng lý giải ba nguyên nhân chính. Thứ nhất, thu ngân sách tăng lớn vào cuối năm nên nguồn tăng thu phải chuyển sang năm sau để sử dụng.
Thứ hai, nhiều dự án hạ tầng quan trọng được khởi công, triển khai có thời gian thực hiện dài. Phần vốn chưa sử dụng hết trong năm được chuyển sang để tiếp tục đầu tư theo tiến độ.
Thứ ba, nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương chiếm gần 30% tổng số chuyển nguồn. Đây là một cấu phần lớn trong số kinh phí chuyển sang năm sau mà Bộ trưởng làm rõ trước Quốc hội.
Đẩy nhanh thanh quyết toán các khoản tạm ứng
Về tạm ứng vốn, Bộ trưởng cho biết tỷ lệ giải ngân đầu tư công 9 tháng năm 2026 đạt 62,9%, nhưng tạm ứng chiếm tới 37%, chủ yếu tại các công trình đầu tư hạ tầng quan trọng.
Để xử lý, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 312 ngày 8/10, yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính. Trong đó, nhiệm vụ được nhấn mạnh là đẩy nhanh thanh quyết toán, sớm thanh toán các khoản vốn đã tạm ứng.
Việc xử lý tạm ứng phải gắn với tiến độ thực hiện dự án, hoàn thành công trình và đưa vào sử dụng để vốn đầu tư phát huy hiệu quả.
Giải ngân chậm phải xử lý từ khâu chuẩn bị dự án
Phân tích nguyên nhân giải ngân chậm, Bộ trưởng chỉ ra công tác chuẩn bị dự án còn bất cập, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ODA. Hiện một công trình nhóm B cần ít nhất từ 18 tháng đến hai năm chuẩn bị.
Trong quá trình thực hiện, dự án có thể phải điều chỉnh nội dung đầu tư, dự toán hoặc thiết kế. Những thay đổi này làm phát sinh thêm thủ tục và kéo dài thời gian triển khai.
Với dự án ODA, việc điều chỉnh phức tạp hơn do liên quan nguồn vốn nước ngoài. Ngoài thủ tục trong nước, dự án còn phải thỏa thuận với đối tác, có trường hợp phải ký lại hiệp định, khiến thời gian xử lý kéo dài.
Theo Bộ trưởng, muốn giảm hệ số ICOR, công trình phải sớm được đưa vào khai thác. Vì vậy, yêu cầu nâng hiệu quả phải được thực hiện xuyên suốt từ chuẩn bị dự án, tổ chức triển khai đến thanh quyết toán và vận hành.
Bộ trưởng xác định chuẩn bị dự án và tổ chức thực hiện là hai khâu quan trọng nhất để đẩy nhanh tiến độ, giảm chuyển nguồn, giảm tạm ứng và nâng hiệu quả sử dụng vốn.
Tiếp tục huy động vốn ứng phó biến đổi khí hậu cho Đồng bằng sông Cửu Long
Về kiến nghị bố trí vốn phòng, chống lũ lụt, sụt lún, ngập úng, xâm nhập mặn và nước biển dâng, Bộ trưởng cho biết kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030 bố trí 214.000 tỷ đồng vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho sáu vùng, cùng khoảng 56.600 tỷ đồng vốn ODA.
Trong cơ cấu hỗ trợ, nguồn dành cho Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu chiếm khoảng 18% tổng mức hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương giai đoạn 2026 - 2030.
"Bên cạnh nguồn vốn đã bố trí, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đàm phán với các tổ chức quốc tế để huy động thêm nguồn lực cho các nhiệm vụ này," Bộ trưởng Tài chính nhấn mạnh.
