Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Khoa học công nghệ phải tạo ra sản phẩm và giá trị thực tiễn

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới sản phẩm cụ thể, có khả năng ứng dụng, thương mại hóa, đồng thời gắn chặt với đào tạo và thực tiễn phát triển của ngành Xây dựng.

Không để nghiên cứu “xong rồi để đó”

Hội nghị sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và tình hình thực hiện Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số được Bộ Xây dựng tổ chức chiều 10/9.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới sản phẩm cụ thể (Ảnh: Tạ Hải).

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới sản phẩm cụ thể (Ảnh: Tạ Hải).

Đánh giá kết quả triển khai khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, thời gian qua, các cơ quan, đơn vị đã triển khai 37 nhiệm vụ lớn, mang tính chiến lược. Trên cơ sở đó, Bộ tập trung rà soát, huy động các đơn vị, doanh nghiệp, trường đại học tham gia nghiên cứu, trước mắt ưu tiên hai lĩnh vực trọng tâm là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Trong tổng số 605 tiêu chuẩn cần xây dựng, đến nay đã biên soạn 601 tiêu chuẩn. Công tác rà soát các nhiệm vụ khoa học, công nghệ cũng được đẩy mạnh theo hướng chú trọng hơn đến bảo hộ quyền tác giả, chất lượng sản phẩm và khả năng ứng dụng.

Đặc biệt, Bộ trưởng yêu cầu rà soát kỹ 180 đề tài khoa học, công nghệ đã được lựa chọn, xác định rõ những nhiệm vụ thiết thực, có khả năng ứng dụng cao. Các đề tài phải được thẩm định đầy đủ về tính khoa học, bảo mật và tính thực tiễn trước khi đưa lên Trung tâm Đổi mới sáng tạo.

Bộ trưởng nhấn mạnh, cần thực hiện chặt chẽ từng bước để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Sau khi được đánh giá, thẩm định, các sản phẩm cần được đưa lên nền tảng số, qua đó hình thành hệ thống dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của ngành Xây dựng.

Theo Bộ trưởng, nghiên cứu khoa học phải tạo ra sản phẩm cụ thể, có giá trị sử dụng và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đây là cách khai thác hiệu quả nguồn lực chất xám và kinh phí Nhà nước đầu tư, tránh tình trạng nghiên cứu, đánh giá, tổng kết xong rồi để đó.

Một yêu cầu khác được Bộ trưởng Trần Hồng Minh đặc biệt nhấn mạnh là phải gắn nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với công tác đào tạo.

Theo đó, các viện, trường cần xác định nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo. Những kết quả nghiên cứu mới cần được cập nhật vào giáo trình, giúp sinh viên, học viên tiếp cận các công nghệ đang được ứng dụng trong thực tế.

Bộ trưởng dẫn chứng, trong lĩnh vực xây dựng, nhiều công nghệ và phương pháp thi công hiện đại đang được áp dụng trên thế giới nhưng chưa được cập nhật đầy đủ vào chương trình đào tạo. Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần chủ động nghiên cứu, tiếp cận công nghệ mới, tránh tình trạng sinh viên tốt nghiệp nhưng thiếu kiến thức thực tế.

Bộ trưởng cũng đề nghị các viện, trường tăng cường kết nối với thực tiễn thi công, nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ các công nghệ mới trong xây dựng công trình, từ thi công tầng hầm sâu, công nghệ robot, vật liệu, thiết bị đến các giải pháp kỹ thuật tiên tiến.

Việc học hỏi từ thực tế, theo Bộ trưởng, cần trở thành một phần quan trọng của hoạt động nghiên cứu và đào tạo. Các viện, trường cần trực tiếp tiếp cận công trường, nghiên cứu những công nghệ đang được triển khai, từ đó chuyển hóa thành tri thức, cập nhật vào giáo trình và hình thành các nhiệm vụ khoa học, công nghệ mới.

Quang cảnh Hội nghị sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và tình hình thực hiện Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số (Ảnh: Tạ Hải).

Quang cảnh Hội nghị sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và tình hình thực hiện Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số (Ảnh: Tạ Hải).

Tạo nền tảng khoa học, công nghệ cho hạ tầng giao thông hiện đại

Trước đó, báo cáo kết quả triển khai các nội dung về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, ông Lê Văn Dương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, trong 37 nhiệm vụ Bộ Xây dựng giao, đến nay 18 nhiệm vụ đã hoàn thành, đạt 48,65%; 19 nhiệm vụ đang được triển khai đúng tiến độ, không có nhiệm vụ quá hạn.

Đáng chú ý, Bộ Xây dựng đã xác định 8 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược phục vụ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, gồm xây dựng Trung tâm thí nghiệm trọng điểm lĩnh vực đường sắt và 7 nhiệm vụ về các công nghệ chủ lực.

Các nhiệm vụ tập trung vào những công nghệ then chốt như sản xuất ray, phụ kiện và bộ ghi; kết cấu đường ray; vật liệu, xử lý đất yếu nền đường; mạng 5G cho đường sắt tốc độ cao; hệ thống liên khóa máy tính (CBI); các chi tiết, cụm chi tiết cốt lõi của phương tiện đường sắt.

Theo Bộ Xây dựng, các nhiệm vụ được xây dựng theo hướng xác định rõ công nghệ cần làm chủ, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, phương án thử nghiệm, tiêu chuẩn áp dụng và khả năng đưa kết quả vào các dự án đường sắt. Mục tiêu là không chỉ tạo ra sản phẩm nghiên cứu mà từng bước hình thành năng lực công nghệ trong nước.

Ngày 19/6/2026, Bộ Xây dựng đã gửi các nhiệm vụ tới Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định. Đến nay, 7 nhiệm vụ đã được thẩm định, trong đó 6 nhiệm vụ đạt yêu cầu.

Trong thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, Bộ Xây dựng đã tiếp nhận 761 đề xuất sản phẩm, giải pháp từ 53 cơ quan, đơn vị. Qua rà soát, Bộ lựa chọn 180 sản phẩm, giải pháp đã hoàn thiện, có khả năng ứng dụng và nhân rộng trong thực tiễn.

Các đề xuất tập trung vào những lĩnh vực như vật liệu xây dựng, hạ tầng giao thông, chuyển đổi số, AI, BIM, GIS, IoT, xây dựng công trình, an toàn xây dựng, đường sắt, môi trường, năng lượng và kinh tế tuần hoàn.

Bộ Xây dựng đã thành lập Hội đồng đánh giá để lựa chọn các sản phẩm, giải pháp có tiềm năng, qua đó thúc đẩy phổ biến, ứng dụng, chuyển giao và nhân rộng vào thực tế.

Trong công tác tiêu chuẩn, quy chuẩn, Bộ Xây dựng đã xây dựng, ban hành khoảng 139 QCVN và công bố 1.604 TCVN thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ.

Đáng chú ý, để phục vụ triển khai các dự án đường sắt, Bộ đã rà soát, tổng hợp danh mục tiêu chuẩn trong nước và quốc tế có thể áp dụng. Riêng dự án đường sắt tốc độ cao, danh mục gồm 605 tiêu chuẩn, trong đó có 240 TCVN và 365 tiêu chuẩn nước ngoài.

Đối với dự án đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Hải Phòng, danh mục tiêu chuẩn có thể áp dụng gồm 585 tiêu chuẩn, trong đó có 258 TCVN và 327 tiêu chuẩn Trung Quốc. Với đường sắt đô thị, danh mục tiêu chuẩn gồm 601 tiêu chuẩn, cùng 40 QCVN.

Việc rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn được xem là cơ sở quan trọng để phục vụ thiết kế, thi công, quản lý chất lượng và triển khai các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn, đặc biệt là các dự án đường sắt.

Yến Chi

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/bo-truong-tran-hong-minh-khoa-hoc-cong-nghe-phai-tao-ra-san-pham-va-gia-tri-thuc-tien-192260910155715952.htm