Bốn cái tết quan trọng của người Việt
Người Việt có 4 cái Tết lớn trong một năm, ứng với chu kỳ Xuân - Hạ - Thu - Đông. Đó là Tết Nguyên Đán của Xuân, Tết Đoan Ngọ của Hạ, Tết Trung Nguyên của Thu và Tết Hạ Nguyên của Đông.
Một năm khởi tại mùa Xuân
Tết quan trọng nhất của người Việt cũng là cái Tết đến sớm nhất: Tết Nguyên Đán. Đó là cái Tết khởi đầu của một năm, một mùa, một chu kỳ canh tác nông nghiệp.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên đã viết trong tạp chí Indochine số 75 ngày 12.12.1942 rằng: “Theo lịch âm dựa trên sự vận động của mặt trăng, mỗi tháng bắt đầu vào một ngày trăng mới. Và năm mới bắt đầu vào ngày trăng xuất hiện sau khi mặt trời ló rạng khỏi chí tuyến Nam, dấu hiệu cuối cùng trong 3 dấu hiệu mùa đông”.

Thời khắc giao thừa - chuyển giao năm cũ, đón năm mới
Như thế, Tết Nguyên Đán có nghĩa là “buổi sớm đầu năm đánh dấu thời kỳ rạng đông bắt đầu”. Ngày Mùng Một tháng Giêng là ngày bắt đầu của năm, của tháng và của mùa, vì vậy, đó là buổi sáng thiêng liêng nhất.
Mùng Một quan trọng như vậy nhưng "vị và màu" của Tết Nguyên Đán thực ra đã bắt đầu ngay từ đầu tháng Chạp. Nằm thứ hai trong chuỗi khởi đầu một năm mới: Một - Chạp - Giêng - Hai, tháng Chạp là một khoảng thời gian đặc biệt. Nó vắt đến từng giọt cuối cùng của tâm trí, sức lực của con người để tất bật chuẩn bị một tháng Giêng nền nã, thong dong với 3 ngày Tết tối quan trọng.
Thời gian càng trôi, năm cùng tháng tận, những mùi hương lần lượt thay nhau ướp thơm tháng Chạp. Mùi của mộc nhĩ khô, mùi của hạt tiêu sọ chưa rang xay, mùi của bó lạt giang mới tước để chuẩn bị cho việc gói bánh chưng, gói giò thủ, mùi của nếp, của đậu, của mật mía và mùi của miếng bóng bì màu vàng nhạt.
Đến 23 tháng Chạp, ông Công ông Táo là đã thấy Tết thập thò bên hiên. Nhà nhà đồ xôi, luộc gà, bày biện mâm cơm, sắm quần áo, giày mũ, cá chép để tiễn nhà Táo cưỡi chép lên Thiên đình bẩm tấu Ngọc Hoàng tình hình bếp núc năm qua, cầu xin Ngọc Hoàng gia chủ được bếp ấm quanh năm, gia đạo bình an, vợ chồng thắm thiết. Mùi xào nấu quyện với mùi hương trầm, mùi rượu gừng bao sái ban thờ thơm nức.
28 Tết mọi thứ nguyên liệu cho Tết đã tập kết sẵn sàng. Gạo nếp đã ngâm, đỗ đã đãi, thịt thái miếng, lá dong đã rửa, lạt đã ngâm đợi bố về để gói bánh. Bánh gói xong cho vào nồi luộc luôn. Nồi bánh chưng sôi ùng ục tỏa mùi thơm ngào ngạt, bọn choai choai ngồi oánh tú lơ khơ trông bánh, hễ hơi cạn là phải châm tiếp nước sôi, cạnh nồi bánh chưng mẹ thư thả sên mứt gừng, mứt táo. Bố chuẩn bị thịt thủ, chân giò, mộc nhĩ, hạt tiêu, nước mắm ngon để làm giò xào.
Cái mùi thơm của mứt, của giò xào quyện với mùi luộc bánh chưng tạo ra một cái mùi thật khó đặt tên, chỉ có thể gọi nôm na là mùi Tết. Cuộc trình diễn mùi tưởng như bất tận của tháng Chạp cuối cùng cũng kết thúc vào ngày Tất niên, khi trong chiếc làn mẹ đi chợ về có một mớ mùi già. Cũng như tháng Chạp, hương của nước mùi già là một sự chuẩn bị và chuyển tiếp. Nó là điều bận tâm cuối cùng của con người trong tháng Chạp, như tháng Chạp là điều bận tâm cuối cùng của một năm sắp trôi qua.
Giờ phút thiêng liêng nhất là phút Giao thừa. Giờ phút ấy cảm thấy mình mất đi một cái gì đó, mình từ biệt một điều gì đó, làm sao mà níu kéo những ngày tháng trước, những kỷ niệm đã sống trong những năm tháng trước được. Nhưng cũng lại hy vọng một cái gì đó, vì không biết năm mới sẽ đến như thế nào nên tâm trạng có chút bồn chồn, có chút xốn xang.
Và cái thời khắc cung kính đứng lễ mâm cúng giao thừa ngoài trời tống cựu nghênh tân, tiễn quan cũ đón quan hành khiển mới và đứng trước ban thờ gia tiên kính lễ tổ tiên nội ngoại thật thiêng liêng. Qua Giao thừa là chính thức bước sang Mùng Một – ngày đầu tiên của năm mới, thời điểm tất cả mọi công việc đều được đình lại để con người có thể tập trung tối đa vào việc hiếu kính Trời Đất, thần linh, tổ tiên. Mọi hành vi, cử chỉ, lời nói của con người trong ngày Mùng Một đều có sức mạnh tâm linh tác động tốt xấu tới cả một năm dài. Qua Mùng Một, mùng Hai là đến ngày Mùng Ba - ngày cuối cùng của Tết Nguyên Đán - nhà nhà sẽ làm lễ hóa vàng tiễn đưa tổ tiên về nơi âm giới, nhà nông sẽ ra đồng để cấy vụ lúa đầu tiên là Chiêm Xuân.
Từ ý nghĩa ban đầu nặng về nông nghiệp và thực hành các nghi lễ tâm linh và tôn giáo tối quan trọng, Tết Nguyên Đán dần dần trở thành môt cái Tết để người Việt sum vầy, nghỉ ngơi, hưởng thụ sau một năm lao động vất vả. Tết Nguyên Đán trở thành khoảng thời gian hạnh phúc nhất của người Việt trong một năm.

Mâm cỗ Tết - Ảnh: Internet
Tết Đoan Ngọc cần đến một chữ “Tình”
Ca dao xưa có câu: “Tháng tư đong đậu nấu chè/Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm”.
Ở Việt Nam, Tết Đoan Ngọ còn được dân gian gọi bằng những cái tên dân dã hơn: Tết diệt sâu bọ, Tết Đoan Dương, Tết mùng 5 tháng 5. Đây là một trong những ngày lễ truyền thống có nội hàm văn hóa phong phú. Tết Đoan Ngọ được coi trọng xếp vào hàng thứ hai, sau Tết Nguyên Đán.
Tết Đoan Ngọ diễn ra vào ngày mùng Năm tháng Năm. Đoan là mở, mở ra, còn Ngọ là giờ Ngọ, hình thức tính giờ theo 12 Địa Chi, tính từ Tí đến Hợi, bằng 2 vòng quay trên đồng hồ, tương đương với 24 giờ của một ngày. Ngọ là ngựa, là dương, là lửa. Chính ngọ là giữa trưa, thời điểm mặt trời (ngựa lửa) gần với trái đất nhất, nhiệt độ trong ngày cao nhất.
Tại sao ngày mùng Năm tháng Năm lại được chọn làm Tết Đoan Ngọ, chứ không phải một ngày nào khác trong tháng Năm. Bởi trong lịch số âm dương, những số lẻ như 1,3,5,7,9 đều là số dương, và số 5 đứng ở giữa dãy số dương, rất cân bằng, nên được coi là đẹp đẽ.
Đầu tháng Năm âm lịch là kết thúc vụ lúa Chiêm Xuân, chuẩn bị bước vào đầu vụ Mùa - vụ lúa thứ hai năm trong. Lúc này, mùa màng đã được thu hái, đất đai đang được nghỉ ngơi trước khi bước vụ mùa mới. Nhân lúc nông nhàn, người Việt làm lễ tạ ơn trời đất, tổ tiên và ăn mừng mùa vụ vừa thu hoạch.
Người Việt Nam ăn Tết Đoan Ngọ từ khi nào? Có lẽ chúng ta rất khó để trả lời câu hỏi này. Rất nhiều những nguồn gốc, sự tích, lý giải về cái Tết Mùng Năm này, chồng chéo lên nhau, khiến nó trở thành một thứ đa lớp, đa tầng, đa ý nghĩa
Nhưng dù sao, cái Tết Mùng Năm cũng có đặc điểm rất đặc trưng. Để chào đón cái ngày “viêm nhiệt” đó, lại chính là những món đồ ăn thức uống cũng rất nóng như rượu nếp, mận, đào, vải, dứa… các thức bánh cũng có dấu vết của lửa như bánh gio. Như thể người ta muốn “dĩ nhiệt trị nhiệt” như cách thức “dĩ độc trị độc” vậy. Đại vũ trụ bên ngoài đã nóng, thì tiểu vũ trụ trong cơ thể cũng cần phải nóng, lấy cái nóng để giao thoa, cân bằng nhau hoặc mượn cái nóng đó để tiêu diệt mọi thứ sâu bọ, bệnh tật vậy.
Nói cách khác Tết Đoan Ngọ của người Việt là cái Tết tôn vinh nền nông nghiệp lúa nước. Chúng ta ăn những thứ nóng như rượu nếp, vải, mận, mít hay những món ăn có dấu ấn của lửa như bánh gio trong ngày nóng nhất trong năm vì một mục đích là giết sâu bọ - kẻ thù của nền nông nghiệp và con người.
Và, dù người ta có quan niệm về cái Tết diễn ra trong ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch theo góc nhìn nào, vì mục đích gì, thì sự nóng của “viêm nhiệt” ấy chính là hình thái của Tình. Tình mà nhạt nhẽo, thì Tâm lạnh lẽo, và như thế chúng lại biến thành những thứ sâu bọ đục khoét tinh thần của con người.
Mâm lễ ngày Tết Mùng Năm cần đẹp đẽ với lá xanh, hoa thắm, mật ngọt, rượu nồng, đâu cũng là những thức thời trân đơn giản nhưng đang đạt độ chín đắm say.
Rắc vàng điểm ngọc tiết Trung Nguyên
Tết Trung Nguyên của người Việt rơi vào rằm tháng Bảy âm lịch. Vào thời điểm này, vụ lúa Mùa cũng đã tươm tất, lúa sắp bước vào giai đoạn trổ đòng đòng. Nhưng đó cũng là lúc mưa bão ập đến, khiến người trồng lúa phải “trông mưa, trông bão, trông ngày, trông đêm” để cầu nguyện một vụ mùa bội thu.
Rằm tháng Bảy được gọi là Trung Nguyên theo chu kỳ của mặt trăng, theo cách gọi Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng), Hạ Nguyên (rằm tháng Mười). Trung Nguyên là giữa năm âm lịch, khác với Tết Trung Thu (rằm tháng Tám) là giữa mùa thu và có ý nghĩa quan trọng hơn hẳn nhờ khía cạnh tâm linh của Tết.
Khởi kỳ thủy, người Việt thực hành nghi lễ cúng xá tội vong nhân vào ngày rằm tháng Bảy, để cầu siêu cho những vong linh bất hạnh, chưa được siêu thoát.
Nhà nho Phan Kế Bính trong sách “Việt Nam phong tục” viết: “Rằm tháng Bảy gọi là Tết Trung nguyên. Ta tin theo sách Phật thường cho hôm ấy là ngày vong nhân xá tội, nghĩa là người dưới âm phủ được tha một ngày hôm ấy. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia tiên, các nhà có người mới mất cũng hay đốt mã làm chay về hôm ấy”.
Tháng Bảy âm lịch cũng quan trọng như tháng Giêng. Trời đất đã lập thu, kết thúc giai đoạn xuân sinh, hạ trưởng để bước vào kỳ thu tàng, đông liễm. Một nửa vòng quay đã cạn, tiết Trung Nguyên đến để con người bồi đắp âm đức bằng việc cúng xá tội vong nhân và Vu Lan khánh hội. Trong mâm lễ dâng cúng ở nhà chùa, đền, đình và nhiều gia đình Hà Nội không thể thiếu bộ đôi “Xôi vò - chè hoa cau”.

Xôi vò, chè hoa cau của người Hà Nội - Ảnh: Internet
Giá trị của đĩa xôi vò và bát chè hoa cau chính là bao hàm được mọi tiêu chuẩn gần gũi, thanh khiết, thơm tho, tươi đẹp. Đĩa xôi vò dù to dù nhỏ được đơm thật khéo cho tròn đầy, no đủ là hình tượng của mặt trăng, tức Thái Âm và cũng là hình tượng của cội phúc. Những bát chè hoa cau nhỏ nhắn trong veo hồ thủy, lơ lững những hạt đậu sắc vàng như thể tiếp nhận phúc đức từ tâm Thái Âm. Hạt gạo vốn được coi là hạt “ngọc thực”, quyện lấy đậu thành món xôi vò thực là điểm ngọc cho thêm tươi tốt. Còn hạt đậu lấm tấm mặt bát chè có khác chi dát vàng càng tỏ uyên nguyên.
Bao trùm lên tất cả là sự tinh tế, tỉ mỉ của con người trong việc biến những nguyên liệu bình thường trở thành một thức cúng dường có được các giá trị nêu trên. Những thứ càng đơn giản thì càng phải vận dụng công phu thì mới biến gạo thành ngọc, biến đậu thành vàng. Xôi vò là thứ xôi khó làm nhất trong các loại xôi. Để có một đĩa xôi vò chuẩn phải dụng công và thành ý rất nhiều. Chè hoa cau cũng vậy. Người xưa chọn bộ đôi xôi vò - chè hoa cau để biện lễ quả là có ý tứ sâu xa.
Đầu Đông mừng Tết cơm mới
Rằm tháng Mười âm lịch là Tết Hạ Nguyên, đánh dấu giai đoạn mùa đông của năm. Theo lý Xuân sinh - Hạ trưởng - Thu liễm - Đông tàng thì đây là lúc vạn vật tạm dừng hoạt động. Cây cối rụng lá, nước sông suối đóng băng, tuyết phủ che vạn vật, thóc lúa đã cất kỹ trong kho, nguyên lý của Đông tàng là vậy.
Ở phương Nam nhiệt đới này, mùa Đông không “đông cứng” như thế. Tuy nhiên, từ “tàng” của Đông tàng vẫn rất hợp lý, bởi đây là lúc tàng trữ, bảo tàng hạt lúa thu hoạch từ vụ Mùa được gieo ngay sau Tết Đoan Ngọ và đã nếm trải mọi hương vị của Tết Trung Nguyên.
Tháng Mười âm lịch có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ cuối cùng của Việt Nam, nhất là ở khu vực Bắc bộ. Khắp nơi ngập tràn mùi rơm mới cắt, mùi lúa mới phơi, mùi gạo mới xát và mùi cơm mới nấu. Cái mùi cơm mới đó đã làm nên Tết Cơm Mới như cách gọi của người Việt, đã đi vào văn chương của Thạch Lam, Vũ Bằng…
Vụ lúa Mùa vô cùng quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến cái Tết Nguyên Đán. Thu hoạch bội thu thì sẽ có cơ sở để chuẩn bị ăn Tết Nguyên Đán thật to, thật no ấm. Và ngược lại, sẽ là một quãng lặng cuối năm đìu hiu, không dám mộng mơ gì ngoài miếng dẻo thơm.
Thế nên, khi vụ Mùa bội thu, người Việt sẽ ăn Tết Cơm Mới thật linh đình vào ngày rằm tháng Mười. Lễ mừng lúa mới hay còn gọi là Tết cơm mới và Tết Hạ Nguyên, là một trong những lễ hội quan trọng nhất trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của các dân tộc Việt Nam.
Cơm mới, xôi mới náo nức tỏa hương thơm khắp làng khắp tỉnh, kết hợp cùng những món thời trân của mùa Đông như chả rươi, chả chim tạo thành mâm cỗ thảo thơm.
Mâm cỗ đó trước là dâng cảm tạ Trời Đất ban cho gió thuận mưa hòa, tổ tiên chiếu cố che chở con cháu, sau là để thết đãi nhau một chầu cuối trước khi mưa phùn gió bấc ập về.
Đặc biệt, người Việt tạ ơn Thổ thần, vị thần Đất đã tạo ra mùa màng bội thu, giống như thần Nước, Mặt Trăng ở rằm tháng Giêng (Tết Thượng Nguyên), thần Lửa, Mặt Trời ở Tết Đoan Ngọ, thần Nông ở Tết Trung Nguyên. Đấy là một vòng khép kín của chu kỳ nông lịch, vận hành theo quỹ đạo con trăng.
Sau cái Tết Cơm Mới này, việc lúa má tạm dừng để cho đất đai hồi phục, tái tạo năng lượng, hoặc luân canh chuyển sang trồng rau cỏ. Tất cả đều như những cội mầm ẩn mình trong đất đen, đợi một ngày kia, mặt trời lại ló rạng khỏi chí tuyến Nam để kết thúc mùa Đông thì sẽ bừn bựt trổ ngọc biếc chào đón mùa Xuân.
Nhà báo Vĩnh Quyên - nguyên Phó tổng giám đốc Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam, có biệt danh “người đàn bà fufiem” nổi tiếng không chỉ với sự sắc sảo trong nghề báo mà còn là một người phụ nữ Hà Nội, luôn yêu thích tìm tòi, gìn giữ và phục dựng những nét đẹp của ẩm thực truyền thống Hà thành. Chị cho rằng nấu ăn và viết lách có nhiều điểm tương đồng, đều cần có tình yêu và sự tỉ mỉ, chi tiết!
Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/bon-cai-tet-quan-trong-cua-nguoi-viet-246226.html












