Bốn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn khoa học công nghệ ở miền núi phía Bắc
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng số, nhân lực và liên kết ứng dụng công nghệ tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
Khoa học công nghệ được xác định là một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Tại buổi làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà với 9 địa phương trong vùng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hoàng Minh đã đánh giá kết quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng số, nhân lực và liên kết ứng dụng công nghệ.
Buổi làm việc với các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn tập trung đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026, mục tiêu tăng trưởng hai con số, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, vận hành chính quyền địa phương hai cấp và triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà với 9 tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc - Ảnh: KHCN.
Khoa học, công nghệ tại các địa phương còn nhiều điểm nghẽn
Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, trong 9 tháng năm 2026, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các tỉnh từng bước cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch, chuyển từ theo dõi tiến độ sang quản lý nhiệm vụ theo kết quả đầu ra.
Một số địa phương ghi nhận kết quả đáng chú ý. Sơn La đã đạt hoặc vượt 26/41 chỉ tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tại Lào Cai, cáp quang đã được triển khai đến 99% số thôn; Sơn La phủ cáp quang và sóng 4G tại 100% số xã.
Hoạt động khoa học, công nghệ cũng từng bước gắn với nhu cầu thực tiễn, phát huy thế mạnh của từng địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp điện tử, truy xuất nguồn gốc, kinh tế cửa khẩu và logistics.
Tuy nhiên, kết quả triển khai giữa các địa phương vẫn có sự chênh lệch. Tuyên Quang còn 57 thôn lõm sóng hoặc sóng yếu, trong khi cáp quang tại Lai Châu mới đến 88,59% số thôn, bản. Dữ liệu và phần mềm chuyên ngành ở một số nơi chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ.
Thứ trưởng Hoàng Minh lưu ý, vẫn còn khoảng cách giữa việc hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch và tạo ra chuyển biến thực chất về năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đây là vấn đề các địa phương cần tiếp tục tập trung giải quyết.
Từ thực tiễn triển khai, Thứ trưởng chỉ ra 5 điểm nghẽn chủ yếu: nguồn lực tài chính hạn chế, giải ngân chậm; thiếu nhân lực chuyên trách về công nghệ và dữ liệu, nhất là ở cấp xã; hệ thống dữ liệu, phần mềm chưa đồng bộ; năng lực tiếp nhận, thương mại hóa công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế; liên kết vùng và liên kết giữa viện, trường, doanh nghiệp chưa hiệu quả.
Những khó khăn này càng bộc lộ rõ trong quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp, khi yêu cầu chuyên môn tăng lên nhưng nhân lực kỹ thuật vẫn còn thiếu.
Bốn nhóm giải pháp tập trung tháo gỡ điểm nghẽn
Để nâng cao hiệu quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Thứ trưởng Hoàng Minh đề xuất 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, tập trung vào hoàn thiện cơ chế, phát triển hạ tầng số, nâng cao năng lực cơ sở và thúc đẩy hợp tác công nghệ giữa các địa phương.

Ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng.
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách. Theo Thứ trưởng, nhiều quy định mới được triển khai từ năm 2026 đã cơ bản tháo gỡ những khó khăn trước đây, nhưng một số địa phương vẫn còn cách làm theo cơ chế cũ. Bộ KH&CN sẽ tiếp tục hướng dẫn thực hiện các quy định mới, xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và đánh giá dựa trên kết quả thực chất.
Thứ hai, xử lý điểm nghẽn về hạ tầng số và kết nối dữ liệu. Các địa phương cần phối hợp xóa vùng lõm sóng, mở rộng cáp quang, nâng cao chất lượng kết nối tại cấp xã; đồng thời ưu tiên các nền tảng số dùng chung, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu. Việc khai thác, liên thông dữ liệu cần được tính toán ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp.
Thứ ba, nâng cao năng lực triển khai tại cơ sở. Các địa phương cần tập trung đào tạo thực hành cho cán bộ quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ, quản trị dữ liệu và vận hành nền tảng số, nhất là ở cấp xã. Bên cạnh đó, có thể huy động sinh viên và lực lượng có chuyên môn công nghệ hỗ trợ trực tiếp các xã trong quá trình chuyển đổi số.
Thứ tư, thúc đẩy các bài toán công nghệ liên ngành, liên địa phương. Thứ trưởng Hoàng Minh gợi mở những hướng phối hợp dựa trên thế mạnh của từng địa phương. Cụ thể, Lào Cai và Lạng Sơn có thể hợp tác về công nghệ cửa khẩu, logistics thông minh; Sơn La, Lai Châu và Tuyên Quang phối hợp trong lĩnh vực công nghệ sinh học, giống và bảo quản nông sản; Thái Nguyên và Phú Thọ tập trung vào công nghiệp điện tử, công nghệ phục vụ sản xuất.
Theo định hướng này, các nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, gắn với khả năng tiếp nhận và ứng dụng của địa phương, tránh phân tán nguồn lực.
Thứ trưởng Hoàng Minh cho biết, Bộ KH&CN sẽ tiếp tục phối hợp, tư vấn và hỗ trợ các địa phương triển khai nhiệm vụ, hướng tới đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ghi nhận những nỗ lực của các địa phương trong bối cảnh vùng trung du và miền núi phía Bắc còn nhiều khó khăn về điều kiện phát triển, kết cấu hạ tầng và nguồn lực đầu tư.
Cùng với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, các tỉnh cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, nhất là các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, phân cấp, phân quyền, bố trí nguồn lực và chuyển đổi số tại cơ sở.
Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào thực tiễn quản lý, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
