Bước chuyển mình của giáo dục Việt Nam
Giáo dục Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ với những chính sách đột phá, hướng tới sự phát triển bền vững và toàn diện.

GS. TS. Huỳnh Văn Sơn. (Ảnh NVCC)
Điểm đột phá trong chính sách giáo dục
Trên hành trình phát triển quốc gia bền vững, không có con đường nào khác ngoài việc đặt giáo dục lên hàng đầu. Năm 2025, việc đưa giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia là sự lựa chọn sáng suốt, đánh dấu chặng đường chuyển mình mang tính lịch sử. Đây là lời cam kết của Nhà nước đối với toàn xã hội và tương lai dân tộc.
Giáo dục là trụ cột nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển nguồn nhân lực và con người toàn diện. Theo Ngân hàng thế giới, ở các nước thu nhập trung bình, tăng 1% chi cho giáo dục có thể làm GDP tăng trung bình 0,37% mỗi năm, cho thấy giáo dục là trọng tâm của chiến lược quốc gia và lấy con người làm trung tâm.
Đặc biệt, Nghị quyết 71-NQ/TW đã mang lại luồng sinh khí mới, bằng sự mở lối thể chế. Điểm đột phá trước hết chính là tư duy coi giáo dục là quá trình đồng hành với phát triển kinh tế – xã hội, không chỉ đơn thuần tuân theo các quy luật hành chính. Giáo dục được nhìn như một hệ sinh thái mở, linh hoạt, có khả năng kết nối với khoa học, công nghệ, lao động và sự phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên, chức danh nhà giáo được xác định rõ ràng về vai trò, vị trí và cơ chế đãi ngộ theo hướng nghề nghiệp đặc thù.
Luật Giáo dục được sửa đổi, bổ sung gắn với thực tiễn, nhấn mạnh yếu tố chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục, trao quyền nhiều hơn cho địa phương, nhà trường. Việc ban hành Luật Giáo dục (sửa đổi), Luật Dạy nghề, các quy định về đào tạo sư phạm đã đưa ra những quy định mang tính đột phá về đào tạo giáo viên, phát triển nghề nghiệp và đánh giá chất lượng.
Với việc chính thức xác lập và triển khai Chiến lược quốc gia về giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045, chúng ta đang có một “la bàn” chiến lược mang tính dẫn đường cũng như các luận cứ vững vàng từ thực tiễn và khoa học. Đó chính là nền tảng vững chắc để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam thành hiện thực.

Thầy cô cần tin vào nghề mình đã chọn, liên tục học tập và sáng tạo. (Ảnh: Thanh Thủy)
Yêu cầu mới đối với nhà giáo
Trước biến động toàn cầu, đội ngũ nhà giáo Việt Nam cần được chuẩn bị toàn diện, trọng tâm là năng lực chuyên môn và hội nhập. Giáo viên thời đại mới phải thành thạo công nghệ, hiểu tâm lý học sinh, am hiểu văn hóa - xã hội và có tư duy đổi mới. UNESCO dự báo, đến năm 2030, 70% việc làm sẽ đòi hỏi năng lực mới, tạo sức ép lớn lên công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.
Bên cạnh chuẩn nghề nghiệp, giáo viên thời đại mới cần tăng cường nội lực và bản lĩnh sáng tạo, không chỉ dạy học mà còn giữ vai trò trụ cột xây dựng văn hóa nhà trường, lan tỏa giá trị tích cực cho học sinh. Vì vậy, đào tạo sư phạm cần được tái thiết theo hướng linh hoạt, chuẩn hóa và cá nhân hóa; các trường sư phạm phải trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu giáo dục tầm quốc gia. Đồng thời, yêu cầu cao về đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh văn hóa và khả năng thích ứng trong xã hội đa văn hóa khẳng định người thầy không chỉ “đứng lớp” mà còn “trồng người”, góp phần kiến tạo xã hội văn minh và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học.
Có thể thấy, thể chế chỉ mới là “đầu vào” của tiến trình, còn thực thi là “đầu ra” quyết định. Đối với giáo dục, thành công của khâu thực thi phụ thuộc rất nhiều vào các nhóm yếu tố.
Một là, yếu tố con người, đặc biệt là đội ngũ quản lý giáo dục và giáo viên. Khát vọng đổi mới cần được cá thể hóa, trở thành hành động của từng cá nhân trong hệ thống. Chính giáo viên là người quyết định chính sách “sống” được trong lớp học. Do đó, cần đầu tư nghiêm túc cho đào tạo, bồi dưỡng, trải nghiệm cho nhà giáo theo hướng tiếp cận công việc, nghề nghiệp.
Hai là, yếu tố văn hóa thực thi. Nếu chính sách tích cực mà tư duy chưa đến và hành động thiếu quyết liệt sẽ không bao giờ thành hiện thực. Việc thiết lập môi trường hành chính linh hoạt, chủ động, có trách nhiệm từ góc nhìn tương tác giữa trung ương - địa phương - nhà trường đóng vai trò then chốt.
Ba là, cơ chế tài chính minh bạch, bền vững, đồng bộ. Chính sách cần được hỗ trợ bằng nguồn lực tài chính tương xứng, đặc biệt là cho các vùng khó khăn.
Cuối cùng, các cơ chế giám sát, đánh giá và điều chỉnh linh hoạt. Cần xây dựng hệ thống theo dõi thực thi chính sách dựa trên bằng chứng, dữ liệu và thực tiễn. Những đánh giá này phải đề cập được tiếng nói của người trực tiếp thực thi, đó là giáo viên, hiệu trưởng, học sinh và cả phụ huynh.
Bức tranh giáo dục Việt Nam năm 2026 được dự báo có nhiều chuyển động tích cực: Triển khai mạnh mẽ mô hình nhà trường lấy học sinh làm trung tâm, thúc đẩy chuyển đổi số; tăng tính đồng bộ giữa các cấp học, giữa giáo dục phổ thông, nghề nghiệp, đại học và sau đại học; đồng thời nâng cao vị thế và chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Để bảo đảm sự làm chủ và thích ứng với các thay đổi, thầy cô cần tin vào nghề mình đã chọn, liên tục học tập và sáng tạo, vì các đổi thay của thời đại không cho phép ta hài lòng hay đứng yên. Đối với người học, hãy trở thành chủ thể việc học của mình, khám phá bản thân, nỗ lực bồi dưỡng nội lực và bản lĩnh làm việc, phát triển. Xã hội hãy đồng hành, tái định vị giáo dục trong mỗi gia đình, công sở và chính sách, bởi đào tạo con người không chỉ là trách nhiệm của nhà trường hay nhà giáo mà là trách nhiệm của cả xã hội.
Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/buoc-chuyen-minh-cua-giao-duc-viet-nam-346501.html











