Bước tiến mới trong kỹ thuật mổ tuyến giáp hiện đại
Phát hiện ung thư tuyến giáp, nhiều bệnh nhân không chỉ đối diện nỗi lo bệnh tật mà còn ám ảnh với vết sẹo sau phẫu thuật. Nhờ kỹ thuật 'đường mổ vô hình', giờ đây nhiều bệnh nhân đã loại bỏ khối u hiệu quả, mở ra hy vọng điều trị ít xâm lấn...

Y đức trong điều trị không chỉ dừng lại ở việc cứu sống người bệnh, mà còn phải thấu hiểu những lo lắng rất đời thường của họ.
Ở tuổi 27, chị Hồng Thị Kim Anh (TP.HCM) bất ngờ nhận chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể nhú. Khối u được đánh giá TIRADS 5, dù phát hiện ở giai đoạn sớm nhưng vẫn cần phẫu thuật triệt để. Giữa những lo lắng về bệnh tật, một vết sẹo dài sau phương pháp mổ hở truyền thống trở thành nỗi ám ảnh với bệnh nhân, có nguy cơ ảnh hưởng đến tâm lý và công việc sau này.
Tại Bệnh viện Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội cơ sở Linh Đàm, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường nách. Khác với phương pháp mổ hở truyền thống, kỹ thuật này sử dụng một đường rạch nhỏ khoảng 2–3cm nằm kín trong nếp lằn nách. Từ đây, các bác sĩ đưa dụng cụ nội soi vào để tiếp cận và xử lý khối u. Dưới hệ thống camera phóng đại, toàn bộ cấu trúc vùng cổ được quan sát rõ nét, giúp phẫu thuật viên thao tác chính xác hơn.
Theo PGS.TS Trần Ngọc Lương, nguyên Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, điểm khó của kỹ thuật không chỉ nằm ở đường tiếp cận xa mà còn đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối trong quá trình bóc tách. Việc bảo tồn dây thần kinh quặt ngược thanh quản – yếu tố quyết định giọng nói – và tuyến cận giáp – liên quan đến cân bằng canxi – là yêu cầu bắt buộc.

PGS.TS Trần Ngọc Lương cùng ekíp thực hiện ca phẫu thuật.
Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi. Chỉ một ngày sau mổ, bệnh nhân đã có thể nói chuyện bình thường và vận động nhẹ. PGS.TS Trần Ngọc Lương cho rằng, y đức trong điều trị không chỉ dừng lại ở việc cứu sống người bệnh, mà còn phải thấu hiểu những lo lắng rất đời thường của họ. "Không chỉ điều trị bệnh, chúng tôi còn mong muốn người bệnh sau khi khỏi có thể tự tin hòa nhập cuộc sống, không bị mặc cảm vì những dấu vết do điều trị để lại", bác sĩ Lương nói.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia phát triển phụ thuộc vào các hệ thống robot phẫu thuật với chi phí rất cao, kỹ thuật do PGS.TS Trần Ngọc Lương phát triển sử dụng các dụng cụ nội soi tiêu chuẩn, giúp giảm đáng kể chi phí điều trị nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả và độ an toàn. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho năng lực sáng tạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc Việt Nam.
Không chỉ dừng lại ở phạm vi trong nước, kỹ thuật này đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng y khoa quốc tế. Nhiều bác sĩ từ các nước có nền y học phát triển như Hàn Quốc, Singapore và một số quốc gia châu Âu đã đến Việt Nam để học tập, trao đổi kinh nghiệm và tiếp nhận chuyển giao. Việc phát triển các kỹ thuật y khoa tiên tiến phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cũng là minh chứng cho chủ trương làm chủ công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế.

Thành công của hai ca phẫu thuật là lời khẳng định về chuyên môn của đội ngũ bác sỹ Bệnh viện K.
Trước đó, Bệnh viện K cũng đã tiếp nhận và phẫu thuật thành công cho hai bệnh nhân là du học sinh trở về từ từ Úc, New Zealand để điều trị u tuyến giáp. Cả hai ca bệnh đều được thực hiện tại khoa Ngoại cơ sở Quán Sứ 2 bằng phương pháp phẫu thuật nội soi qua đường miệng, mang lại hiệu quả điều trị cao và đảm bảo yếu tố thẩm mỹ.
Trường hợp thứ nhất là bệnh nhân Nguyễn Thùy L., du học sinh tại Úc, sinh thiết xác định ung thư tuyến giáp. Trường hợp thứ hai là bệnh nhân Nguyễn Thị Ph. (25 tuổi), du học sinh tại New Zealand, phát hiện u tuyến giáp lành tính có nguy cơ gây chèn ép nếu tiếp tục phát triển.
Sau hội chẩn, các bác sĩ chỉ định phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân qua đường miệng, cắt thùy phải và eo tuyến giáp, đồng thời vét hạch cổ nhằm đảm bảo điều trị triệt để. Sau phẫu thuật 5 ngày, bệnh nhân đã hồi phục tốt, có thể nói chuyện và ăn uống bình thường, rút ngắn thời gian nằm viện.
PGS.TS Nguyễn Xuân Hậu, Trưởng khoa Ngoại Quán Sứ 2, cho biết, phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường miệng là kỹ thuật hiện đại, giúp giảm xâm lấn, hạn chế đau sau mổ và đặc biệt đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người bệnh. Ngoài ra, hình ảnh nội soi phóng đại giúp phẫu thuật viên thao tác chính xác hơn, bảo tồn tối đa tổ chức lành.

Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp chuẩn hóa khoảng 3,4/100.000 dân.
Thực tế, ung thư tuyến giáp đang trở thành vấn đề đáng quan tâm không phải vì tỷ lệ tử vong cao mà do số ca mắc gia tăng nhanh. Dữ liệu từ GLOBOCAN 2022 cho thấy, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100 – 6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, trong khi số ca tử vong dao động khoảng 850 – 900 trường hợp. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm của người bệnh có thể đạt trên 90%.
Tại hội thảo về cập nhật phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp mới đây, TS.BS Nguyễn Thị Phương, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết, ung thư tuyến giáp thể nhú – dạng phổ biến nhất – có tiên lượng rất tốt nếu được phát hiện sớm.
Tuy nhiên, việc áp dụng các công cụ đánh giá nguy cơ hiện đại như ACR TI-RADS hay Bethesda 2023 đóng vai trò then chốt trong quyết định điều trị. Đáng chú ý, sự phát triển của xét nghiệm phân tử giúp xác định nguy cơ ác tính thông qua các đột biến gen, góp phần giảm các ca phẫu thuật chẩn đoán không cần thiết.
Trước thực trạng trên, Bộ Y tế xác định rõ định hướng chuyển từ tư duy "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Theo TS.BS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), một loạt giải pháp chiến lược đã được đề ra. Trong đó, không triển khai sàng lọc đại trà đối với người không có triệu chứng, chỉ tập trung vào nhóm nguy cơ cao nhằm hạn chế chẩn đoán quá mức.

Bệnh nhân khám tuyến giáp tại Bệnh viện nội tiết Trung ương.
Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa quy trình chẩn đoán được đẩy mạnh thông qua áp dụng các hệ thống phân loại như TIRADS trong siêu âm và Bethesda trong tế bào học, giúp phân tầng nguy cơ và giảm chỉ định can thiệp không cần thiết. Với nhóm nguy cơ thấp, người bệnh có thể được theo dõi tích cực thay vì phẫu thuật ngay. Các trường hợp nguy cơ trung bình và cao sẽ được điều trị phù hợp, bao gồm phẫu thuật và sử dụng iod phóng xạ khi có chỉ định.
Ông Khoa cũng cho biết, về lâu dài, ung thư tuyến giáp cần được quản lý như bệnh mạn tính có kiểm soát. Đồng thời với phát triển hệ thống đa chuyên khoa kết hợp ung bướu, nội tiết, y học hạt nhân và giải phẫu bệnh, nhằm kiểm soát chặt chẽ chỉ định phẫu thuật, giảm tỷ lệ can thiệp không cần thiết.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/buoc-tien-moi-trong-ky-thuat-mo-tuyen-giap-hien-dai.htm











