Cái bể nước ở Mễ Trì
Cái bể nước KTX Mễ Trì, cứ như tôi nghĩ bần thần, đáng được bảo tồn như thứ 'di sản vật thể' quý báu về nghèo đói và yêu thương của một thời.
Một trong những kỷ niệm không thể nào quên của những năm tháng không thể nào quên đối với đám quần chúng công nông cựu binh trí thức Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) ở ký túc xá (KTX) Mễ Trì là... cái bể nước.

Khu KTX sinh viên Mễ Trì vẫn kiến trúc xưa, chỗ bãi cỏ xanh ngày trước là cái bể nước
Đông như hội và “đặc sản” hắc lào
Đám khóa 17 (K17) chúng tôi cuối tháng 2.1973 lếch thếch lôi thôi kéo nhau từ nơi sơ tán ở 2 huyện Yên Phong và Hiệp Hòa (tỉnh Hà Bắc) ven sông Cầu về thủ đô. Thời gian đầu năm 1973, khoa Văn, trong đó có K17 đang năm thứ nhất, về tạm trú tại nhà D1 bên khu trường ngoại ngữ. Khu nhà của trường Tổng hợp lúc đó vẫn đang bị Ban Tiếp nhận viện trợ trung ương sử dụng, họ chưa trả lại.
Tới tháng 5 hoặc 6 chi đó, thầy trò khoa Văn kéo nhau sang nhà cũ dọn dẹp lại phòng ốc để chuẩn bị hồi khoa. Anh Nguyễn Đăng Thành người miền Nam tập kết chỉ cho tôi coi còn mấy phòng tầng 1 (trệt) nhà C2 vẫn ăm ắp hàng, bỏ mặc không người trông coi.
Cái bể nước ấy dùng chung cho nửa khối nhà C1 và C2 của khoa Văn do giáo sư Hoàng Xuân Nhị tổng quản, bởi nửa phía bên kia của khoa Sử do giáo sư Phan Hữu Dật làm trưởng khoa cũng có một bể như thế. Cả thầy cô (nhà C1) và trò sinh viên (nhà C2) đều trông cậy vào bể này, tất tần tật giặt giũ, tắm táp, đánh răng, rửa mặt, ăn uống. Mà nào nó có to tát gì, chỉ dài gần 3m, ngang cỡ mét rưỡi, cao cũng chừng ấy. Vòi nước thì thường xuyên chảy ri rỉ như trẻ con tè sắp xong. Chính vì vậy, lúc nào xung quanh bể nước cũng đông như hội, 24/7, tình cảnh ôm chậu quần áo, xách cái xô, cầm chiếc ca... xuống xếp hàng chờ tới lượt “yêu nước”.
Khu ký túc xá Mễ Trì được xây dựng hồi giữa thập niên 1960, do Trung Quốc giúp. Điều đặc biệt, theo mẫu thiết kế phổ biến lúc bấy giờ, những dãy nhà KTX chỉ dành một phòng dùng làm nhà tắm - nhà vệ sinh, đặt cuối hành lang mỗi tầng, còn phòng ở chỉ để ở. Những cái toilet công cộng ấy, thực ra cũng chả hoạt động được bởi nước hiếm, yếu, không lên được tầng cao. Hầu hết các căn toilet không có nước được ban quản trị cấp cho đối tượng chính sách-ưu tiên. Những nhà tắm từ tầng 3 trở xuống tuy không cấp cho riêng ai nhưng ghi rõ ngoài cửa "cấm đại tiện", chỉ cho phép tiểu, và xách nước lên tắm. Nguồn nước duy nhất là cái bể ở dưới sân tôi đã kể. Các thầy cô bên nhà C1 cũng như trò ngụ nhà C2 đều chịu cảnh như vậy.
Nước ít, người đông, chỉ mỗi bể chứa, nên tụi sinh viên tự có ý thức nhường nhịn cho thầy cô vào giờ cao điểm. Đó là tầm sáng sớm và chiều tối, tầm nấu ăn, giặt giũ sau buổi lên lớp, sau đêm ngủ. Những khi đó, nếu ai muốn chiêm ngưỡng thầy cô, những bậc sư biểu, giáo sư, tiến sĩ, danh tiếng như cồn... cứ tới bể nước. Các thầy Lê Đình Kỵ, Bùi Ngọc Trác, Đỗ Hồng Chung, Lê Chí Quế, Trần Vĩnh, Võ Quang Nhơn, Bùi Duy Tân, chị Nhu vợ thầy Trác, cô Quý phụ trách phòng tư liệu vợ thầy Chung, các anh được giữ lại trường như Mai Ngọc Chừ, Mã Giang Lân… là đối tượng chính sách, được xếp vào hạng ưu tiên.
Khi các thầy cô “hoạt động yêu nước” xong, tụi sinh viên mới nháy nhau tràn xuống. Ngày nào cũng như ngày nào, mà phải thật nhanh. Muốn tắm phải đợi tới tối, hoặc thật khuya, khi bọn con gái đã “ấy” xong thì mấy thằng con trai đánh chiếc quần đùi bay xuống, dội ào vài phát, lại bay lên.
Ở bẩn vậy nên gần như trăm phần trăm bọn con giai dính hắc lào. Nhắc tới KTX Mễ Trì là nhớ ngay đặc sản hắc lào. Khi hết thuốc, bọn trai lại nhảy tàu điện từ Thanh Xuân vào Hàng Bông, vào vườn hoa Cửa Nam, nơi có mấy hiệu thuốc quốc doanh. Có khi phải mò tới hiệu thuốc số 2 đường Hàng Khay ven hồ Gươm mới thỉnh được thuốc về. Nhiều khi hiệu thuốc cũng hết, lại phải năn nỉ xin-vay nhau từng tí, vay mượn, hứa trả, cam đoan sẽ trả, nhưng có trả không thì giời biết. Hộp thuốc hắc lào tròn tròn bằng sắt tây, to cỡ lòng bàn tay, thuốc giống như mỡ bò sền sệt bôi xích xe đạp.
Đôi lần tôi phải sang phòng bên “mượn” mỡ của đám thằng Bính (Lương Ngọc Bính, sau làm tới Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình), thằng Xuân Ba, Bá Tân… Mấy cha này đều bị dính nặng nên lúc nào cũng trữ sẵn, haha. Có đứa còn chơi xỏ, khi bạn gái thằng Bính tới chơi, nó thò cổ ra réo: “Bính ơi, trả tao hộp thuốc hắc lào”.
Cho tới giờ, đám tôi vẫn thắc mắc không biết bọn con gái có bị dính căn bệnh thời đại như mình. Thôi, đã hết thời hạn bí mật rồi, các bà khai thử ra xem nào. Cứ nhìn bẹn là rõ ngay. Họp lớp, về tụ hội quanh bể nước Mễ Trì. Mà chả biết cái bể ấy nó có còn.
Câu chuyện cái xô
Để tắm giặt được, điều quan trọng là phải có thau hoặc xô. Giờ nghĩ lại vẫn rùng mình. Tới cái xô mà cũng không sắm được, đủ biết nghèo tới mức nào. Phòng tôi hộ khẩu thường trú của mấy cán bộ nên khá sẵn xô. Chiếc xô tôn chứa khoảng chục lít nước. Bác Xuân, bác Sang, bác Cường mỗi bác có một cái, hình như bác Lập, bác Sơn dùng chiếc thau men cũ, bác Khánh không có.
Xô quý không khác gì xe đạp. Mỗi lần mượn cứ ngài ngại là. Để có đi có lại, tôi chấp nhận hằng ngày tới bữa ăn xuống nhà ăn đem cơm về ăn chung với bác Cường, ăn xong bao luôn việc rửa bát đũa thìa cặp lồng, bù lại được dùng xô thoải mái. Bữa nào kẹt lắm thì sang phòng bên mượn xô bác Vũ Lệnh Năng. Hình như chưa bao giờ dám mượn xô của bác Xuân. Cụ này trông nghiêm bỏ mẹ, ít nói ít cười, tự dưng chờn chợn, đâm sợ.

Xếp hàng chờ tới lượt hứng nước ở vòi nước công cộng
Một lần, sau 10 phút hứng mới gần đầy xô, tôi xách xô nước từ bể nước lên tầng 3, quờ quạng thế quái nào trượt chân đổ nguyên xô nước ra cầu thang, nhưng tai hại nhất là ngã đè lên xô, méo cả cái xô quý của bác Năng. Tôi lén xuống đất hì hục uốn lại. Khi đem trả vào đầu giường bác Năng, tôi cứ len lén, lí nhí vài câu cảm ơn, không dám khai báo.
Thiếu nước như thế, mỗi lần vào nhà ông anh họ ở khu Thanh Lương ven sông Hồng, có cái giếng tập thể, việc đầu tiên của tôi là tắm cho thỏa thích. Không ít lần, khi tôi mò tới, ông anh lại tủm tỉm, việc đầu tiên là hô cái Bích thằng Cường đâu, lấy cái gầu múc nước cho chú.
Cái bể nước KTX Mễ Trì, cứ như tôi nghĩ bần thần, đáng được bảo tồn như thứ “di sản vật thể” quý báu về nghèo đói và yêu thương của một thời.

Nhà báo Nguyễn Thông
Tác giả Nguyễn Thông sinh năm 1955, quê Hải Phòng, từng dạy học, làm báo (tại báo Thanh Niên và Một Thế Giới); đã xuất bản 2 tác phẩm Chuyện thời bao cấp tập 1 và Quanh quất phận người.
Cái bể nước ở Mễ Trì ghi lại những mảnh đời thực, tình nghĩa thầy trò hồi tác giả là sinh viên.
Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/cai-be-nuoc-o-me-tri-246474.html











