Căn cứ phân định mức phụ cấp với viên chức trạm y tế xã để được hưởng phụ cấp 80%

Theo quy định mới nhất, tùy theo địa bàn công tác, nhân viên trạm y tế cấp xã được hưởng mức phụ cấp 70% hoặc 80%.

Theo Nghị định 350/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế do Chính phủ vừa ban hành, tùy theo địa bàn công tác, nhân viên trạm y tế cấp xã được hưởng mức phụ cấp  70% hoặc 80%. 

Cụ thể, điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 350/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp 80% đối với viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng trên địa bàn biên giới, hải đảo; trên địa bàn xã khu vực II, tức xã khó khăn, và xã khu vực III, tức xã đặc biệt khó khăn, thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Chính phủ.

Đối với viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã và cơ sở y tế dự phòng ở các khu vực còn lại, điểm b khoản 2 Điều 4 quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề là 70%. Mức 70% cũng được áp dụng với viên chức làm chuyên môn y tế tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố; trung tâm kiểm dịch y tế biên giới tỉnh, thành phố và các viện y tế dự phòng.

Nhân viên y tế khám sức khoẻ cho người dân tại trạm y tế ở Nghệ An. Ảnh: Thái Bình

Nhân viên y tế khám sức khoẻ cho người dân tại trạm y tế ở Nghệ An. Ảnh: Thái Bình

Như vậy, Nghị định 350/2026/NĐ-CP xác định địa bàn làm việc là căn cứ để phân định mức phụ cấp đối với viên chức chuyên môn tại trạm y tế cấp xã và cơ sở y tế dự phòng. Người làm việc tại địa bàn biên giới, hải đảo hoặc xã khu vực II, khu vực III được hưởng mức 80%; người làm việc ở các địa bàn còn lại được hưởng mức 70%.

Nghị định 350 có hiệu lực từ 9/9/2026, tuy nhiên nhân viên y tế sẽ được nhận mức phụ cấp mới này từ đầu năm 2026.

Trước đó, cử tri tỉnh Hưng Yên, Thái Nguyên và TP Đà Nẵng... đề nghị Bộ Y tế nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh nâng mức phụ cấp đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên dân số, bởi đây là lực lượng trực tiếp bám sát địa bàn, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh tại cộng đồng, song hiện nay mức phụ cấp quá thấp, không còn phù hợp với mặt bằng giá cả và sự phát triển kinh tế - xã hội, nhằm giúp đội ngũ này yên tâm gắn bó và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương; Đồng thời tăng cường cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút đội ngũ y, bác sĩ về công tác tại trạm y tế các xã miền núi, biên giới...

Hồi đáp cứ tri, Bộ Y tế cho biết, đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản, Bộ Y tế đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 192/2026/NĐ-CP ngày 30/5/2026 quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế và hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố, cô đỡ thôn, bản.

Nghị định đã sửa đổi toàn diện các quy định tại Quyết định số 73/2011/QĐ- TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch; Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản, theo hướng thống nhất, cập nhật và phù hợp với bối cảnh pháp lý, kinh tế, xã hội hiện nay.

Theo đó, Nghị định bổ sung chính sách hỗ trợ đối với nhân viên y tế tổ dân phố, khu phố và cô đỡ thôn, bản; quy định mức hỗ trợ hằng tháng bằng 0,7 hoặc 0,5 lần mức lương cơ sở, thay cho mức 0,5 và 0,3 lần mức lương tối thiểu chung theo Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg. Cụ thể:

Mức 0,7 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với nhân viên y tế tại thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 500 hộ gia đình trở lên và các địa bàn thuộc vùng khó khăn;

Mức 0,5 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với các địa bàn còn lại.

Đối với cộng tác viên dân số, Bộ Y tế đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số. Nghị định quy định cộng tác viên dân số được hưởng thù lao hằng tháng theo mức lương cơ sở như sau:

Mức 0,5 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với cộng tác viên dân số làm việc tại thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên; thôn đặc biệt khó khăn theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo; thôn, bản tại xã vùng khó khăn; tổ dân phố, khu phố có từ 500 hộ gia đình trở lên;

Mức 0,4 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với cộng tác viên dân số làm việc tại các địa bàn còn lại.

Bài và ảnh Thái Bình

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/can-cu-phan-dinh-muc-phu-cap-voi-vien-chuc-tram-y-te-xa-de-duoc-huong-phu-cap-80-169260914072459279.htm