Cánh buồm đỏ Quảng Ninh

'Cánh buồm đỏ Quảng Ninh' không phải là bài thơ cầu kỳ về thủ pháp nghệ thuật, nhưng lại thành công bởi sự thống nhất giữa hình tượng, cảm xúc và tư tưởng.

Cánh buồm đỏ Quảng Ninh

(Ths Nguyễn Tuấn Điệp)

Một cánh buồm không dệt bằng lụa đỏ

Mà dệt bằng triệu sức thanh xuân

Bao năm tháng sáng ngời đất Mỏ

Luôn sắt son tình Đảng, nghĩa Dân

Buồm thức dậy giữa bình minh Đông Bắc

Đón mặt trời từ phía Vịnh Hạ Long

Biển mở rộng như cánh tay Tổ quốc

Nâng Quảng Ninh cùng tầm vóc non sông.

Không ai thấy những đường kim của gió

Chỉ thấy buồm mỗi sớm lại vươn cao

Không ai thấy những bàn tay lặng lẽ

Từng con đường, ngõ phố đẹp sao.

Than hóa lửa, lửa hóa thành khát vọng

Đá hóa đường, đường trải tới chân mây

Đảo nối đảo, những nhịp cầu xa rộng

Cánh chim mang ánh sáng mỗi ngày.

Di sản thức trong tiếng chuông Yên Tử

Biển ngân xanh giữa kỳ quan đất trời

Những đoàn tàu mở năm châu cửa biển

Đánh thức mùa hội nhập ở muôn nơi.

Đừng gọi đó chỉ màu cờ Tổ quốc

Hay nắng chiều nhuộm đỏ cánh buồm xa

Đó là sắc của triệu người tiếp bước

Lấy mồ hôi viết tiếp những bài ca.

Hôm nay đó, từ bến bờ Đông Bắc

Tổ quốc gọi tên thành phố tự hào

Bao ước nguyện cha ông gửi gắm

Cánh buồm càng căng gió vươn cao.

Ta mải ngắm biển trời rạng rỡ

Quảng Ninh thân yêu, thành phố anh hùng

Luôn đổi mới, đi đầu trong sóng gió

Nên cơ đồ mắt lệ rưng rưng.

Bao lớp người giữ rừng, giữ biển

Giữ cánh buồm luôn căng gió vươn khơi

Dưới cờ Đảng vững vàng đi tới

Xây tương lai thành phố rạng ngời.

Đẹp vô cùng, Quảng Ninh mến yêu ơi!

(Quảng Ninh, tháng 8/2026)

Khi “cánh buồm đỏ” đón gió lớn

Những ngày này, khi Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Ninh đang hân hoan hướng tới dấu mốc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, bài thơ “Cánh buồm đỏ Quảng Ninh” của Ths. Nguyễn Tuấn Điệp ra đời như tiếng lòng hòa cùng niềm vui của quê hương.

Không kể lại hành trình phát triển bằng những số liệu khô khan, tác giả lựa chọn ngôn ngữ của thi ca để khắc họa tầm vóc của một vùng đất đang căng tràn khát vọng vươn ra biển lớn.

Chính sự lựa chọn ấy đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, bởi đằng sau từng câu chữ là câu chuyện về một Quảng Ninh đã đi qua gian khó, bền bỉ đổi mới và hôm nay đang tự tin bước vào một chặng đường phát triển mới.

Điều đầu tiên gây ấn tượng khi đọc tác phẩm là hình tượng “cánh buồm đỏ”. Viết về Quảng Ninh, người ta thường nghĩ đến than đá, Vịnh Hạ Long, Yên Tử, những hầm lò hay những con tàu trên biển… Đều là những biểu tượng quen thuộc của vùng đất Mỏ, nhưng Nguyễn Tuấn Điệp lại không chọn những hình ảnh đã trở nên quen thuộc ấy, anh chọn cánh buồm, bởi cánh buồm luôn gắn với sự chuyển động, với hành trình vượt sóng và với khát vọng đi xa.

Đó là một lựa chọn giàu tính biểu tượng, cánh buồm không đứng yên. Cũng như Quảng Ninh chưa bao giờ bằng lòng với những gì đã có. Từ một tỉnh khai thác than là chủ yếu, Quảng Ninh đã từng bước chuyển mình thành cực tăng trưởng phía Bắc, đi đầu trong cải cách hành chính, xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.

Hình ảnh cánh buồm vì thế không chỉ gợi lên vẻ đẹp của biển Đông Bắc mà còn gợi lên tinh thần luôn hướng về phía trước của vùng đất này. Ngay ở 2 câu thơ mở đầu: “Một cánh buồm không dệt bằng lụa đỏ/Mà dệt bằng triệu sức thanh xuân”, tác giả đã làm thay đổi cách cảm nhận thông thường về hình tượng cánh buồm.

Nếu cánh buồm trong đời sống được dệt bằng vải, thì cánh buồm trong bài thơ lại được dệt bằng con người.

Chỉ bằng một phép ẩn dụ giản dị, tác giả đã đặt con người vào vị trí trung tâm của toàn bộ tác phẩm. Điều làm nên Quảng Ninh hôm nay không phải trước hết là tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý, mà chính là trí tuệ, ý chí và sức lao động của nhiều thế hệ người dân vùng Mỏ.

“Triệu sức thanh xuân” là cách nói giàu hình ảnh nhưng hoàn toàn không cường điệu, bởi phía sau mỗi công trình, mỗi tuyến cao tốc, mỗi cây cầu nối biển, mỗi khu công nghiệp, mỗi khu du lịch hay mỗi làng quê đổi mới đều là sự cống hiến âm thầm của biết bao con người. Chính họ mới là những người đã dệt nên cánh buồm mang tên Quảng Ninh.

Cái hay của bài thơ còn nằm ở chỗ tác giả không miêu tả trực tiếp những thành tựu ấy mà lựa chọn cách gợi mở bằng những hình ảnh giàu sức liên tưởng.

Có lẽ đắt giá nhất là bốn câu thơ: “Không ai thấy những đường kim của gió/Chỉ thấy buồm mỗi sớm lại vươn cao. Không ai thấy những bàn tay lặng lẽ/Từng con đường, ngõ phố đẹp sao.” “Đường kim của gió” là một sáng tạo nghệ thuật rất đẹp.

Gió vốn vô hình, nhưng chính những điều vô hình ấy lại góp phần tạo nên hình hài của cánh buồm. Hình tượng ấy khiến người đọc liên tưởng đến những con người lặng lẽ phía sau sự phát triển của Quảng Ninh.

Người ta dễ nhìn thấy những cây cầu hoàn thành, những tuyến đường mới mở, những đô thị hiện đại hay những cảng biển tấp nập, nhưng ít ai nhìn thấy những đêm thức trắng trên công trường, những ca làm việc trong hầm lò, những chuyến tuần tra nơi biên giới, hải đảo, những cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hay những cán bộ ngày ngày tận tụy với công việc cải cách hành chính.

Thành tựu bao giờ cũng hữu hình, còn công sức làm nên thành tựu lại thường lặng lẽ. Nguyễn Tuấn Điệp đã nhìn thấy vẻ đẹp của sự lặng lẽ ấy và đưa vào thơ bằng một hình tượng vừa tinh tế vừa giàu chất nhân văn.

Đọc tiếp bài thơ, người đọc bắt gặp 2 câu thơ có thể xem là sự khái quát cô đọng nhất về hành trình phát triển của Quảng Ninh: “Than hóa lửa, lửa hóa thành khát vọng/Đá hóa đường, đường trải tới chân mây.” Đây không chỉ là những câu thơ đẹp mà còn chứa đựng một tư duy chính luận sâu sắc.

Than là biểu tượng của Quảng Ninh trong suốt nhiều thập niên, nhưng Quảng Ninh hôm nay không còn chỉ được biết đến là vùng than.

Từ nhiều năm nay, địa phương đã chủ động chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ, du lịch, dịch vụ, công nghiệp hiện đại và kinh tế biển. Chính vì vậy, “than hóa lửa” không chỉ là quá trình khai thác tài nguyên mà còn là quá trình chuyển hóa nguồn lực.

Còn “lửa hóa thành khát vọng” lại là sự chuyển hóa ở tầng cao hơn, khi nguồn lực vật chất trở thành nguồn lực tinh thần, biến ý chí phát triển thành động lực đổi mới. Đó là một cách diễn đạt ngắn gọn nhưng hàm chứa cả một triết lý phát triển.

Nếu “than hóa lửa” là biểu tượng của sự chuyển đổi tư duy thì “đá hóa đường” lại là biểu tượng của tinh thần mở lối. Có một Quảng Ninh từng bị chia cắt bởi địa hình đồi núi, bởi biển đảo, bởi những khoảng cách địa lý.

Nhưng cũng chính Quảng Ninh là địa phương tiên phong đầu tư mạnh mẽ vào kết cấu hạ tầng với những tuyến cao tốc hiện đại, những cây cầu nối đôi bờ, sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu và hệ thống giao thông đồng bộ.

Những con đường ấy không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn mở rộng không gian phát triển, kết nối Quảng Ninh với cả nước và thế giới. Trong bài thơ, tất cả được gói gọn trong hình ảnh “đường trải tới chân mây”, vừa giàu chất thơ, vừa gợi mở một tầm nhìn rộng lớn về tương lai.

Điểm đáng chú ý nữa là dù viết về sự phát triển mạnh mẽ, bài thơ vẫn không tách Quảng Ninh khỏi cội nguồn văn hóa. Hình ảnh “Di sản thức trong tiếng chuông Yên Tử, biển ngân xanh giữa kỳ quan đất trời” là một lát cắt rất đẹp. Tiếng chuông Yên Tử tượng trưng cho chiều sâu văn hóa, cho giá trị tinh thần và bản sắc của vùng đất. Vịnh Hạ Long tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên và vị thế quốc tế của Quảng Ninh.

2 hình ảnh ấy được đặt cạnh nhau để khẳng định rằng phát triển không đồng nghĩa với đánh mất truyền thống. Ngược lại, chính văn hóa và di sản là nền tảng để Quảng Ninh phát triển bền vững.

Một chi tiết rất đáng suy ngẫm là cách tác giả lý giải màu đỏ của cánh buồm. Anh viết: “Đừng gọi đó chỉ màu cờ Tổ quốc/Hay nắng chiều nhuộm đỏ cánh buồm xa. Đó là sắc của triệu người tiếp bước/Lấy mồ hôi viết tiếp những bài ca.”

Nếu chỉ nhìn ở góc độ nghệ thuật, đây là một cách mở rộng hình tượng, nhưng ở góc độ tư tưởng, đây là lời khẳng định về vai trò của con người trong sự phát triển.

Màu đỏ của cánh buồm không chỉ là màu của lá cờ, mà còn là màu của truyền thống, của niềm tin, của sự hy sinh và cống hiến.

Đó là màu đỏ của những người thợ mỏ đã làm nên truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”; là màu đỏ của những chiến sĩ ngày đêm giữ gìn chủ quyền nơi biên giới, biển đảo; là màu đỏ của những người lao động đang góp sức dựng xây quê hương. Chính con người đã tạo nên sắc đỏ ấy và cũng chính con người sẽ tiếp tục giữ cho cánh buồm Quảng Ninh luôn căng gió.

Đến những khổ thơ cuối, cảm xúc của tác giả hòa quyện với niềm tự hào về một Quảng Ninh đang bước vào tầm vóc mới: “Hôm nay đó, từ bến bờ Đông Bắc/Tổ quốc gọi tên thành phố tự hào.”

2 chữ “gọi tên” được sử dụng rất tinh tế. Đó không phải là sự tôn vinh bằng lời, mà là sự ghi nhận sau cả một hành trình dài nỗ lực.

Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không phải là đích đến cuối cùng của Quảng Ninh, mà là điểm khởi đầu cho một hành trình mới với những yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và chất lượng sống của người dân. Vì vậy, niềm tự hào trong bài thơ không phải niềm tự hào của sự tự mãn, mà là niềm tự hào đi cùng trách nhiệm.

Khổ thơ kết: “Bao lớp người giữ rừng, giữ biển/Giữ cánh buồm luôn căng gió vươn khơi/Dưới cờ Đảng vững vàng đi tới/Xây tương lai thành phố rạng ngời” đã khép lại bài thơ bằng một thông điệp rõ ràng.

Cánh buồm chỉ có thể đi xa khi luôn có gió, Quảng Ninh chỉ có thể tiếp tục phát triển khi giữ vững được truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết, kiên định con đường đổi mới và không ngừng khơi dậy khát vọng phát triển trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

Có thể nói, “Cánh buồm đỏ Quảng Ninh” không phải là bài thơ cầu kỳ về thủ pháp nghệ thuật, nhưng lại thành công bởi sự thống nhất giữa hình tượng, cảm xúc và tư tưởng. Toàn bộ bài thơ được nâng đỡ bằng một biểu tượng xuyên suốt, các hình ảnh nối tiếp nhau tự nhiên, không gượng ép, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi.

Quan trọng hơn, tác giả đã không viết về Quảng Ninh bằng tâm thế ngợi ca đơn thuần mà bằng cái nhìn của một người đang sống trong nhịp chuyển mình của quê hương, cảm nhận được từng hơi thở của sự đổi thay và gửi gắm vào thơ một niềm tin mãnh liệt về tương lai.

Có lẽ đó cũng chính là giá trị lớn nhất của bài thơ “Cánh buồm đỏ” không chỉ là một hình tượng nghệ thuật, mà đã trở thành biểu tượng của ý chí, của khát vọng và của tầm vóc Quảng Ninh trên hành trình cùng đất nước bước vào một kỷ nguyên phát triển mới./.

(Minh Đức - Việt Tài, hội viên Hội VHNT Quảng Ninh)

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/canh-buom-do-quang-ninh-post787365.html