Khoan dung
Theo định nghĩa, khoan dung là rộng lượng tha thứ cho người có lỗi lầm. Thí dụ: Cảm hóa bằng sự khoan dung. Tấm lòng khoan dung. Đồng nghĩa với khoan dung còn có: bao dung, độ lượng, tha thứ ...

Nhà triết học Ch.Rozan đã khái quát rất hay về chất lượng của người có kỹ năng khoan dung như sau: “Đức tính khoan dung gần như liên quan trực tiếp đến trí tuệ. Muốn biết tha thứ, ta phải biết thông cảm”. Cám ơn Rozan vì phát hiện của ông đối với cái cần và đủ để có một sự khoan dung, đó là phải có trí tuệ minh mẫn để suy xét, để nhận biết vấn đề và sau đó quan trọng hơn là phải biết thông cảm với hoàn cảnh người mắc lỗi thì mới có thể biết tha thứ được.
Bàn về bản chất và biểu hiện của sự khoan dung, triết học Đông phương và Tây phương đều có những cách nhìn nhận rất đa dạng, rất phong phú nên có nhiều suy nghĩ đa chiều. Nhà triết học người Đức, ông Peter von Winter (1754 – 1825) có một cách nhìn nhận mang mầu sắc tôn giáo nhưng trong nhiều thế kỷ rất nhiều người ca ngợi về tính chân thật và tổng quát của nó, đó là: “Trừng phạt là bản tính của loài người, tha thứ là đức tính của Thượng đế”. Còn Đông phương cổ học Tinh hoa cũng khẳng định: “Bá Di, Thúc Tề bất niệm cực ác, oán thị dung hỷ” (tạm dịch: Đôi bạn chí cốt Bá Di, Thúc Tề không nhớ đến cái ác, nên ít khi oán trách). Như thế, cái tha thứ, bao dung, khoan dung phải xuất phát từ cái trí tuệ hiểu biết sắc sảo, có lòng thông cảm thương yêu người khác thì mới thực hành được. Còn những ai luôn hận thù, luôn nghĩ ác về người khác thì sẽ biến cái nhỏ thành cái lớn, làm sao mà tha thứ, khoan dung được.
Triết gia bậc thầy Voltaire (1694 – 1778) đã đánh giá một cách tổng quát: “Chúng ta sống ở trên đời, ai chẳng có lúc mắc phải lỗi lầm hay khuyết điểm. Vậy chúng ta nên tha thứ lẫn cho nhau những điều dại dột và sai lầm ấy. Đó cũng là quy luật của tạo hóa vậy”. Nhân loại mãi biết ơn Voltaire vì ông đã chỉ rõ: Con người không có ai hoàn hảo, nhất định có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm. Phải biết tha thứ lẫn cho nhau thì xã hội mới ổn định và phát triển được. Có tác giả phát triển thêm ý kiến của Voltaire là: Phải biết làm cho chuyện to thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ thành không có gì mới là khôn ngoan, mới là tâm thiện. Còn người ngu dốt, không nhìn xa trông rộng mà “chuyện bé xé ra to” là dẫn đến tai họa mà không ai ngờ tới được. Vì sao? Vì cái xấu, cái ác cứ lan ra mãi mà không biết cách dập tắt đi có phải là dại dột và bế tắc không!
Triết gia Robert Browning (1812 – 1889) còn hướng dẫn con người có thể vượt lên trên cả sự bao dung, tha thứ. Đó là gì? Đó là “hãy quên đi”. Ông đã viết: “Tha thứ đã là tốt. Quên đi lại còn tốt hơn”. Ý kiến của Browning đã soi sáng cho lịch sử nhân loại cũng như mối giao hảo giữa hai con người, hai tập thể, hai quốc gia. Đó là: “Hận thù nên cởi, chứ không nên thắt”. Hiểu nôm na là những mâu thuẫn cũ, những bất đồng đã xẩy ra trong quá khứ nên quên đi, cùng nhau tìm con đường đi mới, có lợi cho cả hai phía mà triển khai, mà thực hiện.
Sau đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), Liên hợp quốc được thành lập, nhiều quốc gia vốn là thù địch cũ đã cùng ngồi lại để bàn việc chung xây dựng xã hội mới tiến bộ hơn, văn minh hơn. Trên tinh thần từ bỏ mọi bất đồng trong quá khứ, nhiều tổ chức của Liên hợp quốc đã ra đời như: Hội đồng bảo an, Tổ chức khoa học giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ... Các tổ chức này đã ra đời và lớn mạnh, thay đổi hoàn toàn thế giới ở nửa sau của thế kỷ XX và bước vào thế kỷ XXI giầu mạnh hơn, đoàn kết hơn, biết hợp tác làm ăn hơn.
Phân tích sâu hơn tác dụng to lớn của khoan dung, có nhiều ý kiến rất thú vị và có lý, có tình. Xin trích dẫn hai ý kiến rất thực tế và công bằng. Triết gia J. E. Renan (1823 – 1892) đã viết: “Cái điều mà người ta gọi là khoan dung, thực tế cũng chỉ là sự công bằng mà thôi”. Quá tuyệt vời. Vì suy đi rồi lại phải xét lại thì trong nội dung của khoan dung đã phải có trí tuệ và sự thông cảm để cuối cùng tìm ra sự công bằng, hữu hảo cho cả hai phía thì thật quá khôn ngoan và biết tiến biết lùi. Còn triết gia Benoit Champy (1895 -?) thì viết thẳng thắn và công khai rằng: “Khoan dung là một đức tính làm lợi cho ta thì cũng có lợi cho kẻ khác”. Nếu biết nhìn nhận công bằng và khiêm tốn như thế, hai đối tác thù địch cũ cũng sẽ tìm thấy con đường hợp tác mới, cùng có lợi cho cả hai phía. Nhờ Champy làm sáng tỏ, rõ ràng là khoan dung có lợi cho cả hai phía và có lối thoát để chuyển sang hợp tác, làm ăn, buôn bán vì cả hai bên đều có lợi. Cách nhìn biện chứng như vậy mới chứng tỏ một trí tuệ thông thái, biết tiến, biết lùi sao cho có lợi nhất cho công việc.
Đất nước Việt Nam của chúng ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đầy gian khổ, lâu dài nhưng cũng hết sức vẻ vang. Một trong những điều nổi bật, đó là chính sách khoan dung độ lượng của Chính phủ ta đối với những tù, hàng binh, thương, bệnh binh dù là người Pháp, người Mỹ hay bất cứ quốc tịch nào. Nhờ có chính sách khoan hồng này, biết bao người ở phía đối địch đã biết ơn, chịu ơn chính phủ và nhân dân ta nên đã trở thành những người bạn, những nhóm thiện nguyện, những tập đoàn kinh tế-xã hội quay lại Việt Nam cùng đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn, gian khổ để xây dựng một xã hội mới, đất nước mới sau khi hòa bình, thống nhất hai miền Nam-Bắc.
Các nhà khoa học là cựu chiến binh Mỹ tại trường Đại học kỹ thuật Texas đã là nơi tổ chức các Hội thảo khoa học rất có hiệu quả để thế giới hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến yêu nước của nhân dân Việt Nam, là nơi lưu trữ các tài liệu quý báu mà các cựu chiến binh Mỹ đã thu lượm được trong chiến tranh ở các vùng tại miền Nam nước ta. Nhờ có Trung tâm lưu trữ nổi tiếng thế giới này mà nhiều tài liệu quý báu, nhiều cuốn nhật ký ghi chép rất nổi tiếng đã được công bố, điển hình là cuốn nhật ký của anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và của một số liệt sĩ khác. Có cuốn nhật ký đã được dựng thành phim điện ảnh hoặc các cuốn tiểu thuyết nói về cuộc kháng chiến anh dũng và gian khổ của nhân dân Việt Nam ta để giới thiệu với bè bạn khắp năm châu. Những cuốn phim và các cuốn tiểu thuyết này mang tính khách quan hơn và có giá trị nhân văn hơn bởi do chính những người Mỹ cung cấp căn cứ trên các kỷ vật chiến tranh. Như thế, lợi ích của chính sách khoan dung, độ lượng của chính phủ ta thực sự đã mang lại lợi ích to lớn và đã đi vào lịch sử đất nước cũng như thế giới.
Đến đây, cần nhắc đến một lời dạy rất cơ bản, rất tính người, rất khách quan của Đại triết gia cổ đại người Syria, ông Publilius Syrus (sinh năm 85 trước Công nguyên – không rõ năm mất): “Nên tha thứ cho kẻ khác, nhưng đừng tha thứ cho chính ta bao giờ”. Syrus thật vĩ đại khi viết ra câu danh ngôn này, nó đã soi sáng cho tất cả những ai mắc thói xấu, mắc khuyết điểm, mắc sai lầm mà không dám tự tranh đấu để vươn lên, không dám vượt qua chính mình và kết quả là tự mình làm hại mình, không dám công khai thừa nhận lỗi lầm của mình. Mà như thế thì làm sao tiến bộ, làm sao vượt lên được một nấc thang mới trong quá trình tu dưỡng bản thân được. Mãi cám ơn Syrus vì sự cảnh tỉnh của ông là: không bao giờ được tha thứ cho những lỗi lầm, khuyêt điểm, tật xấu của ta trong đời sống hàng ngày. Ta phải sống lương thiện, biết ơn xã hội và bạn bè, luôn thông cảm giúp đỡ người khác và không bao giờ được tự cho phép mình tha thứ cho khuyết điểm của chính mình. Đó mới thực sự là quá trình gian khổ phấn đấu cho một hướng đi tiến bộ, tự mình nâng phẩm hạnh của mình lên, làm sao cho kịp anh em, bạn bè, đồng nghiệp ... để có cơ hội phát triển tốt trong tương lai.
Xin nhắc tới lời dạy của đại văn hào Voltaire: “Sự dung thứ lẫn nhau chính là vị thuốc duy nhất để sửa chữa những lỗi lầm đang làm tổn hại con người trên khắp thế gian này”, để chúc tất cả chúng ta luôn biết khoan dung, tha thứ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày để gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.











