Cao tốc Quy Nhơn – Pleiku: Nối Rừng – Biển, mở hành lang tăng trưởng xanh
Khởi công Dự án thành phần 2 cao tốc Quy Nhơn – Pleiku, “mắt xích” lớn nhất trên tuyến 43.734 tỷ đồng, mở trục kết nối chiến lược Rừng – Biển, tạo động lực phát triển logistics, kinh tế xanh và liên kết vùng Tây Nguyên – Nam Trung Bộ.
Sáng 19/8/2026, tại nút giao đường Trường Sơn Đông, xã Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai, Dự án thành phần 2 thuộc cao tốc Quy Nhơn – Pleiku chính thức được khởi công. Với tổng mức đầu tư 27.576 tỷ đồng, đây là dự án thành phần lớn nhất, đồng thời là “mắt xích” có ý nghĩa quyết định trong việc hoàn thiện tuyến cao tốc 125 km kết nối Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ.
Mắt xích quyết định trên tuyến cao tốc 43.734 tỷ đồng
Sự kiện khởi công diễn ra đúng dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và hướng tới Quốc khánh 2/9, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hiện thực hóa một trục giao thông Đông – Tây chiến lược của khu vực.

Khởi công cao tốc Quy Nhơn – Pleiku: Mắt xích chiến lược kết nối Rừng – Biển.
Cao tốc Quy Nhơn – Pleiku có tổng chiều dài khoảng 125 km, tổng mức đầu tư 43.734 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương 42.484 tỷ đồng và ngân sách địa phương 1.250 tỷ đồng. Dự án được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 219/2025/QH15, đi qua địa bàn 16 xã, phường thuộc tỉnh Gia Lai.
Toàn tuyến được đầu tư với quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh, bề rộng nền đường và cầu 24,75 m, tốc độ thiết kế 100 km/h, mặt đường bê tông nhựa.
Trong cấu trúc toàn tuyến, Dự án thành phần 2 đoạn Km22+000 - Km90+000 dài 68 km giữ vai trò kết nối trung tâm giữa Dự án thành phần 1 và Dự án thành phần 3. Vì vậy, tiến độ của dự án này có ý nghĩa trực tiếp đối với thời điểm đưa toàn bộ tuyến Quy Nhơn – Pleiku vào khai thác.
Không chỉ có quy mô vốn lớn nhất, đây còn là đoạn tuyến có điều kiện thi công phức tạp nhất khi đi qua địa hình đồi núi hiểm trở của Tây Nguyên, với 2 công trình cầu cấp đặc biệt và 2 công trình hầm cấp đặc biệt tại khu vực đèo An Khê và đèo Mang Yang.
Việc lựa chọn giải pháp hầm xuyên núi tại những khu vực địa hình nhạy cảm được xem là hướng tiếp cận phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, đồng thời hạn chế việc đào phá địa hình trên diện rộng. Đây là điểm cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình triển khai, bởi một dự án hạ tầng quy mô lớn chỉ thực sự phát huy giá trị lâu dài khi bài toán phát triển và bảo vệ môi trường được đặt song hành ngay từ khâu thiết kế, thi công.

Ông Nguyễn Tự Công Hoàng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai phát biểu tại buổi lễ.
Phát biểu tại lễ khởi công, ông Nguyễn Tự Công Hoàng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, nhấn mạnh cao tốc Quy Nhơn – Pleiku là trục giao thông Đông – Tây huyết mạch, đóng vai trò “xương sống” trong liên kết kinh tế giữa Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Theo ông Nguyễn Tự Công Hoàng, việc khởi công Dự án thành phần 2 có tính chất quyết định đối với tiến độ toàn dự án. Gia Lai cam kết tập trung nguồn lực, chỉ đạo các sở, ngành và địa phương đẩy nhanh giải phóng mặt bằng; giải quyết các thủ tục về mỏ vật liệu, bãi thải và chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đúng quy định, tạo điều kiện để nhà thầu thi công an toàn, đúng tiến độ và bảo đảm môi trường sinh thái.
Hạ tầng xanh mở không gian phát triển mới
Từ Quy Nhơn lên Pleiku hiện chủ yếu dựa vào Quốc lộ 19, với nhiều đoạn đèo dốc, quanh co. Khi cao tốc hoàn thành theo kế hoạch vào năm 2029, thời gian di chuyển dự kiến được rút xuống còn khoảng 1,5 - 2 giờ, thay vì 3,5 - 4 giờ như hiện nay.

Đại biểu tham dự buổi lễ.
Giá trị của tuyến cao tốc vì thế không chỉ nằm ở việc rút ngắn khoảng cách địa lý. Quan trọng hơn, tuyến đường sẽ mở ra một hành lang kinh tế mới, kết nối trực tiếp không gian sản xuất của Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ, hệ thống cảng biển và cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh.
Đối với Gia Lai, đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực logistics, giảm chi phí vận chuyển nông sản, mở rộng thị trường và tạo thêm sức hút đối với các dự án công nghiệp, chế biến sâu, dịch vụ logistics và du lịch.
Ở góc độ kinh tế môi trường, hiệu quả của cao tốc cần được nhìn nhận ở cả hai chiều: tạo động lực tăng trưởng nhưng đồng thời phải giảm áp lực lên môi trường.
Việc rút ngắn thời gian vận hành, giảm các đoạn leo dốc, xuống dốc và tăng - giảm tốc liên tục có thể góp phần tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải từ hoạt động vận tải. Tuy nhiên, những lợi ích này chỉ bền vững khi quá trình thi công kiểm soát chặt chẽ bụi, tiếng ồn, đất đá đào đắp, nước thải, bãi thải và tác động tới hệ sinh thái.
Đặc biệt, với một tuyến đường đi qua vùng đồi núi Tây Nguyên, yêu cầu bảo vệ rừng, kiểm soát sạt lở và phục hồi cảnh quan sau thi công cần được xem là một phần của chất lượng công trình, chứ không phải nhiệm vụ bổ sung.
Tại lễ khởi công, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn yêu cầu các đơn vị quản lý dự án, tư vấn giám sát và nhà thầu tập trung tối đa nguồn lực, huy động thiết bị, nhân lực, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ thi công tiên tiến, nhất là đối với các hạng mục hầm và cầu đặc biệt.
Thứ trưởng đồng thời yêu cầu quá trình thi công phải tuân thủ nghiêm các quy định về an toàn lao động, chất lượng công trình, quyết tâm đưa toàn bộ tuyến cao tốc hoàn thành theo kế hoạch vào năm 2029.
Thông điệp này đặt ra yêu cầu rõ ràng: không đánh đổi chất lượng, an toàn và môi trường lấy tiến độ.
Khi hoàn thành, cao tốc Quy Nhơn – Pleiku sẽ không đơn thuần là một tuyến đường mới. Đây có thể trở thành hành lang logistics quan trọng đưa nông sản, hàng hóa Tây Nguyên nhanh hơn đến thị trường, cảng biển và cửa khẩu; đồng thời tạo nền tảng hình thành các chuỗi giá trị mới, thúc đẩy công nghiệp chế biến, dịch vụ và du lịch.

Cao tốc Quy Nhơn – Pleiku có tổng chiều dài khoảng 125 km, tổng mức đầu tư 43.734 tỷ đồng.
Xa hơn, hạ tầng giao thông hiện đại sẽ tạo điều kiện để Gia Lai thu hút các dòng vốn đầu tư có chất lượng, phát triển các khu, cụm công nghiệp theo hướng xanh hơn, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và khai thác hiệu quả lợi thế rừng, biển, nông nghiệp và du lịch.
Từ “kết nối Rừng – Biển”, cao tốc Quy Nhơn – Pleiku đang mở ra một không gian phát triển mới cho Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Thước đo cuối cùng của dự án không chỉ là ngày hoàn thành tuyến đường, mà còn là khả năng biến hạ tầng giao thông thành động lực tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra giá trị bền vững cho cả vùng.


