Chè Trung du: Hồn đất, tình người
Không chỉ lưu giữ hương vị của một giống chè lâu đời, những gốc chè trung du cổ còn gắn với câu chuyện về người đặt nền móng cho nghề chè Tân Cương, được các thế hệ sau tiếp nối bằng tình yêu và niềm tự hào với mảnh đất quê hương.

Gia đình anh Phạm Văn Nhật vẫn lưu giữ những cây chè trung du cổ.
Ở tuổi 75, bà Phạm Thị Yên, ở xóm Hồng Thái, xã Tân Cương, đã dành gần trọn cuộc đời gắn bó với cây chè. Với bà, danh tiếng “Đệ nhất danh trà” được tạo nên từ sự hòa quyện của điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ.
Từ khâu chăm sóc, thu hái đến chế biến, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo của người làm chè. Trong đó, chè trung du, còn gọi là chè ta, mang một dấu ấn riêng với hương vị đậm đà, “tiền chát, hậu ngọt”, gợi nhớ về những ngày đầu cây chè bén rễ trên đất Tân Cương.
Còn với anh Phạm Văn Nhật, ở xóm Nam Thái, xã Tân Cương, hơn 300 gốc chè trung du cổ trong vườn nhà không chỉ mang giá trị về kinh tế, mà còn là một phần di sản được truyền lại từ các thế hệ trước.
Anh Nhật bộc bạch: Có thời kỳ, do năng suất thấp, chè trung du dần được thay thế bằng những giống chè mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Việc giữ lại những cây chè này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận một số hạn chế về kinh tế. Nhưng tôi nghĩ, nếu ai cũng chuyển đổi hết thì những gốc chè lâu đời sẽ dần mất đi. Vì vậy, tôi vẫn quyết tâm chăm sóc, gìn giữ để bảo tồn giống chè của cha ông.
Theo những câu chuyện được lưu truyền tại địa phương, từ khoảng những năm 1920-1925, cụ Đội Năm đã đưa giống chè từ Phú Thọ về trồng tại vùng đất Tân Cương.
Từ những cây chè đầu tiên, nghề trồng và chế biến chè dần phát triển, trở thành sinh kế của nhiều gia đình, góp phần tạo dựng danh tiếng cho những vùng chè nổi tiếng của Thái Nguyên hôm nay.

Du khách thưởng trà trung du tại HTX trà và du lịch cộng đồng Tiến Yên, xã Tân Cương.
Trải qua thời gian, diện mạo những nương chè cũng có nhiều đổi thay. Các giống chè mới với ưu thế về năng suất, khả năng sinh trưởng và sự thuận tiện trong chăm sóc, thu hái ngày càng được đưa vào sản xuất.
Quá trình chuyển đổi ấy giúp người làm chè nâng cao sản lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nghề chè, chè trung du cổ dần thu hẹp diện tích, không còn phổ biến như trước. Dẫu vậy, trong ký ức của những người gắn bó lâu năm với cây chè, giống chè ta vẫn có vị trí đặc biệt.
Với ông Vũ Văn Thơ, ở xóm Bình Định, xã Tân Cương, là cháu nội của cụ Đội Năm, câu chuyện về người đi đầu đưa giống chè về đất Tân Cương không chỉ được nhắc lại như một ký ức của địa phương, mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ.
Ông Thơ chia sẻ: Qua những biến động của thời gian, gia đình tôi không còn trực tiếp chăm sóc những diện tích chè trung du do cụ trồng trước đây. Tuy nhiên, chúng tôi luôn mong các gia đình còn giữ được giống chè này tiếp tục chăm sóc, gìn giữ, để những cây chè lâu đời không biến mất.
Từ những cây chè được đưa về trồng cách đây khoảng một thế kỷ đến những gốc chè vẫn xanh trong vườn nhà hôm nay là hành trình được nối dài bằng công sức của nhiều thế hệ.
Nghề chè Tân Cương đã đổi thay, giống chè mới tiếp tục mở ra cơ hội phát triển sản xuất, nhưng gốc chè trung du cổ vẫn nhắc nhớ về điểm khởi đầu của vùng đất “Đệ nhất danh trà”.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/che-trung-du-hon-dat-tinh-nguoi-9k2z0j1b
