Chiếc võng dù Mường Thanh

Minh họa: VŨ NHƯ PHONG

Minh họa: VŨ NHƯ PHONG

- Tôi lấy chồng khá gần nên vẫn thường xuyên ghé qua nhà bố mẹ để hỏi thăm, có khi mang biếu bố mẹ thứ gì đó hoặc đơn giản là chỉ để gặp và nói chuyện cùng bố mẹ. Như thường lệ, buổi chiều hôm nay tôi ghé qua nhà bố mẹ, vợ chồng cậu em trai và các cháu đều vắng nhà, mẹ tôi sang hàng xóm chơi. Còn bố tôi, bố nửa nằm nửa ngồi trên cái ghế tựa dành cho người già. Trời mưa bay lất phất, bố thấy tôi liền nhờ tôi vào buồng ngủ lấy cho bố cái áo mặc thêm cho đỡ lạnh. Tôi mở cánh tủ hai buồng, một bên là mấy bộ quần áo được treo ngay ngắn. Tôi mở bên còn lại, bên ấy có bốn ngăn, vì bố cao hơn nên quần áo của bố được để ở hai ngăn trên. Tôi tìm một cái áo ấm cho bố, trong phòng hơi tối, tôi tìm mà chưa thấy cái áo nào dày hơn. Tôi thò tay vào chồng áo phía trong góc tủ, bất giác tay tôi chạm vào một cái túi nilông, tôi lôi cả cái túi ra, mở miệng túi xem bên trong đựng thứ gì, tôi rất ngạc nhiên vì trong túi là chiếc võng dù. Chiếc võng ấy ngày bé bốn chị em tôi vẫn buộc vào hai cây cột giàn mướp trước sân ngồi đu đưa hoặc nằm nghỉ trưa. Từ trong buồng tôi nói vọng ra:

- Bố vẫn còn giữ cái võng này cơ à?

- Cái võng trắng ấy à?

- Vâng!

Khi tôi lấy áo ra đưa cho bố, bố vừa mặc vừa bảo tôi:

- Con vào lấy cái võng ra đây cho bố!

Tôi ngạc nhiên bảo:

- Bố muốn nằm võng à? Giờ buộc vào đâu được?

- Con cứ lấy ra đây!

Tôi mang cái túi đựng võng ra đưa cho bố. Bố tôi mặc áo xong thì mở miệng túi, bố lấy cái võng ra khỏi túi. Bố cầm cái võng trên tay. Cái võng làm từ những sợi dù to chừng cái đũa nhưng dẹt, hầu hết các sợi dây màu trắng ngà, nhiều chỗ có những đốm thâm nâu, riêng hai mép võng được làm bằng sợi dù màu xanh lá cây. Các sợi dù được thắt nút kiểu mắt cáo, đoạn giữa võng khoảng cách các mắt khá thưa, càng thu về hai đầu các nút thắt càng gần nhau, các mắt cáo bé lại. Phía hai đầu võng các sợi dù được cuộn lại rất chặt, gọn gàng và khéo léo che hết đầu các sợi dù và tạo thành một chỗ như quai của một chiếc túi xách. Hai đầu võng có thêm một đoạn dây dù màu xanh to chừng ngón tay rất dai, rất chắc nên trước đây chị em tôi dùng dây ấy buộc vào cây cột, hai đầu võng rất chắc chắn không hề sờn rách. Cũng ngót ba mươi năm, kể từ ngày tôi đi học xa rồi lấy chồng, nay chiếc võng lại hiện ra trước mắt tôi, tôi vẫn thấy cái võng không thay đổi nhiều, nó chỉ ố vàng hơn đôi chút, các sợi dù vẫn còn dai chắc như xưa. Bố đặt chiếc võng lên đùi, hai tay bố lần theo mép võng rồi đầu võng ngắm nghía. Tôi vẫn đinh ninh bố xem võng còn chắc chắn không để mắc võng nằm nghỉ. Bất chợt bố hỏi tôi:

- Con có biết nguồn gốc cái võng này không?

- Trước đây con nhớ có lần bố bảo cái võng này ông nội cho bố.

Bố trầm tư, ánh mắt xa xăm như nhìn về một miền kí ức, một lát rồi bố nói với tôi:

- Giang à! Chiếc võng này không chỉ để nằm đâu. Nó là cả một thời máu lửa của ông nội con đấy.

Tôi rất ngạc nhiên, tò mò, tôi ngồi xuống cái ghế cạnh bố. Bố chậm rãi kể cho tôi nghe về nguồn gốc của chiếc võng dù màu trắng ngà ấy.

***

Bước sang chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, để phân tán lực lượng địch, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở một loạt chiến dịch tại nhiều vùng nhằm không cho quân Pháp co cụm tạo thành lực lượng cơ động lớn mạnh để xoay chuyển tình thế. Trên chiến trường Bắc Bộ, ta mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân Pháp còn chiếm đóng Lai Châu, uy hiếp quân Pháp ở Thượng Lào. Ngoài ra còn một số hướng tấn công khác. Nhận thấy Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, được coi là “cánh cửa” bảo vệ Thượng Lào và “bàn xoay” chiến trường Đông Dương. Đồng thời cũng chính là vùng tam giác của ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc, cần phải ngăn chặn vành đai biên giới, ngăn cản sự chi viện của quốc tế cho Việt Nam nên Pháp quyết giữ chốt Điện Biên Phủ để cản trở vùng hậu phương vững chắc của ta. Tại Điện Biên Phủ, Pháp đã xây dựng một tập đoàn kiên cố gồm 49 cứ điểm. Con đường từ Hà Nội lên Điên Biên rất hiểm trở, khó khăn. Để vận chuyển trang thiết bị, vũ khí và lính lên Điện Biên, phía Pháp chủ yếu vận chuyển bằng đường không. Tại đây Pháp đã sửa sang sân bay cũ của Nhật để lại ở Mường Thanh và xây dựng mới thêm sân bay Hồng Cúm. Có lợi thế về cơ giới, phương tiện nên Pháp nghĩ quân đội Việt Nam không thể phá hủy được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Không những thế phía Pháp đã điều tướng Na-va, một vị tướng lừng lẫy chưa từng thất bại trên các trận địa ở Châu Phi. Pháp đã rất tự tin vào thành trì vững chãi đó, tin rằng Điện Biên Phủ bất khả chiến bại.

Về phía quân đội Việt Nam, trang thiết bị, vũ khí, phương tiên còn thiếu thốn, tuy nhiên vì mục tiêu phải phá hủy được trận địa kiên cố của Pháp ở Điện Biên Phủ để bảo vệ được con đường ngoại giao quốc tế Việt - Lào và Việt - Trung là các nước anh em trong khối xã hội chủ nghĩa. Mặt khác Bộ tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mĩ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương, từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ của Nhân dân ta. Chính thời điểm ấy, ông nội tôi tạm biệt vợ con và quê hương Thái Bình trở thành chiến sĩ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến trường Điện Biên Phủ là một lòng chảo lớn nhất Tây Bắc, đặc biệt là cánh đồng Mường Thanh. Trước hết quân đội ta phải mở đường, kéo pháo vào Điện Biên, đến các trận địa, đó là các cao điểm để chiếm ưu thế nã pháo vào lòng chảo. Trên đường ra mặt trận ông tôi và đồng đội lúc mở đường, lúc kéo pháo. Gian nan không ít, nguy hiểm cũng nhiều nhưng với lòng quyết tâm của toàn quân và toàn dân mọi khó khăn đều lùi lại phía sau. Đơn vị của ông cũng đã đến được Điện Biên Phủ. Ban đầu Pháp chiếm ưu thế bởi chúng đã xây dựng các lô cốt kiên cố trên các cao điểm và giữa cánh đồng Mường Thanh rộng lớn, cứ quân ta tiến lên là chúng từ các lô cốt bắn ra làm cho ta không áp sát được. Khó khăn về phương tiện nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam rất kiên trì, mưu trí, dũng cảm. Chủ chương của ta phải kiên quyết phá được các cao điểm ở phía Đông. Để phá được các cao điểm trên đồi A1, C1, D1… các chiến sĩ ta ngày đêm phải đào hầm ngầm xuyên qua đồi. Những ngày này vũ khí trong tay các chiến sĩ, trong đó có ông nội tôi là chiếc cuốc chim hoặc xẻng. Không gian làm việc tối đen, bí mật, bất kể ngày đêm các chiến sĩ thay nhau đào. Nhờ những đường hầm bí mật ấy mà các chiến sĩ ta đã đặt được hàng tấn thuốc nổ vào trong lòng các quả đồi trọng điểm, phá hủy các cứ điểm quan trọng như các vọng gác của quân Pháp.

Sau khi các cao điểm bị phá hủy quân Pháp phải chạy về các cứ điểm ở phân khu trung tâm tại cánh đồng Mường Thanh. Lúc này quân Pháp trong các lô cốt, hễ quân ta tiến công là chúng bắn, mà giữa cánh đồng ta lấy đâu ra chỗ để trú ẩn. Chiến thuật của quân đội ta là “vây lấn” rồi “vây siết”, bộ đội ta tiếp tục đào hào vây xung quanh các cứ điểm ở phân khu trung tâm. Trong vòng tròn bao vây ấy ông nội tôi kể gian khó nhất là phải cắt đứt sân bay Mường Thanh. Với Pháp, sân bay Mường Thanh là quan trọng nhất vì từ đạn dược, thuốc men, lương thực thực phẩm, viện trợ thêm quân đều bằng đường hàng không nên sân bay Mường Thanh được Pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Để bảo vệ sân bay, Pháp canh phòng cẩn mật, chúng đã cho lập một hàng rào bảo vệ bằng lũy thép gai và mìn cài khắp nơi nhằm ngăn chặn bộ đội ta phá hủy sân bay. Nếu sân bay còn hoạt động thì Pháp còn nguồn sống. Những ngày này ông tôi cùng đồng đội tiếp tục nhiệm vụ đào hầm xuyên qua hàng rào bảo vệ sân bay. Qua bao gian khó cuối cùng sân bay Mường Thanh cũng bị “cắt đôi” các đường băng bị tê liệt, máy bay của Pháp, thậm chí cả máy bay viện trợ của Mĩ không thể hạ cánh hay cất cánh tại Mường Thanh được nữa. Đó là chiến công bước đầu của quân đội ta. Ông tôi kể hôm sân bay bị khống chế đồng đội của ông ôm nhau, có người cười, có người rưng rưng khóc. Để siết chặt vòng vây bộ đội lại đào hào. Ban ngày đào hào, ban đêm cũng đào hào, đào đến khi bàn tay bật máu, đào đến khi đất trộn với mồ hôi, có khi cả máu. Ông nội tôi từng nói: “Mỗi mét hào là một mét hy vọng, nếu không có những đường hào ấy sẽ không có chiến thắng ở Điện Biên”. Vòng vây quân Pháp bị thu hẹp dần, máy bay tiếp tế không thể lên, xuống được, đường kính vòng vây chỉ khoảng một cây số.

Những ngày đầu xuân 1954, trên những sườn đồi bao quanh thung lũng Mường Thanh là hoa ban nở trắng, những cánh hoa mỏng manh, tinh khiết, rung nhẹ trong gió xuân, như thể núi rừng Tây Bắc vẫn bình thản, bao dung trước những biến động lớn lao của lịch sử. Giữa sắc trắng của hoa ban, màu xanh non của cỏ cây thức dậy sau mùa đông khiến cả không gian mang hơi thở của sự sống, của khởi đầu mới. Mưa xuân rơi lặng lẽ, không ào ạt, không dữ dội, chỉ là những hạt mưa nhỏ, mịn như sương phủ nhẹ trên mặt đất, lên những lối mòn. Mưa mang theo mùi ngai ngái của bùn non và cỏ ướt. Trong làn mưa ấy cảnh vật trở nên mờ ảo, như một bức tranh thủy mặc đang chuyển động. Mưa xuống chiến hào thành nơi đọng nước lầy lội. Cả bên ta và bên Pháp cùng dầm mình trong mưa và bùn non.

Về phía ta có hậu phương vững chắc, từng đoàn dân công thồ hàng tiếp tế nên bộ đội ta không bị đói. Nhưng phía Pháp thì gặp muôn vàn khó khăn, lương thực thực phẩm, vũ khí, thuốc men chỉ trông chờ vào các máy bay tiếp tế thả dù xuống. Vì vòng vây thu hẹp nên nếu muốn thả dù chính xác thì máy bay phải bay thấp, mà bay thấp thì quân ta lại bắn pháo, thế nên máy bay Pháp đành phải bay cao thả hàng tiếp tế. Ông tôi kể cánh đồng Mường Thanh những ngày mùa xuân năm 1954 bị gầm rú bởi tiếng động cơ, máy bay lượn trên bầu trời cả ngày lẫn đêm. Chúng điên đảo không thể hạ cánh, không thể tiếp tế đủ nhu cầu cho quân Pháp dưới mặt đất. Có những đợt máy bay Pháp thả hàng, cả cánh đồng Mường Thanh trắng lóa bởi những chiếc dù trông như cả đàn sứa biển. Từ trên cao, chúng bung ra, trắng và xám, lặng lẽ rơi xuống cánh đồng rộng lớn. Những chiếc dù rơi chậm rãi trong mưa xuân, tạo nên một hình ảnh vừa kỳ lạ vừa nặng nề. chúng tương phản mạnh mẽ với hoa ban và mưa xuân - một bên là vẻ đẹp của thiên nhiên, một bên là dấu hiệu của chiến tranh, của khao khát chiến thắng và sinh tồn cùng tồn tại, tạo nên một mùa xuân đặc biệt không thể nào quên trong tâm trí ông tôi.

Những kiện hàng được Pháp thả xuống có lúc gặp gió mạnh, dù tạt sang địa phận của quân ta hơn nửa, chẳng khác nào tiếp tế cho bộ đội ta. Trong các kiện hàng, ngoài đạn súng bộ binh còn có đạn pháo, đạn cối và nhiều đồ ăn. Trong cuộc đời của mình, ông đã từng được đồng đội chia sẻ “chiến lợi phẩm từ trên trời rơi xuống” nào bánh Pháp, rượu Pháp, đồ hộp, sữa bò... Nhưng có một điều quân Pháp không thể lường trước được những chiếc dù quân Pháp thả xuống cánh đồng Mường Thanh lại làm cho quân đội Việt Nam mong chờ háo hức săn lùng còn vì một mục đích không chỉ ở kiện hàng nó mang theo. Bằng sự thông minh, khéo léo các chiến sĩ ta đã dùng chính những sợi dây dù dai chắc ấy để kết nối thành những chiếc võng, biến thành chiếc “giường nghỉ” di động giữa chiến hào lầy lội. Mảnh vải dù được chia sẻ trở thành “mái nhà” che mưa gió rét buốt giữa mùa xuân. Mỗi chiến sĩ đều có một mảnh vải dù, lúc sống mảnh vải dù ấy như chiếc áo bào, như chiếc áo mưa còn nếu lỡ trúng đạn bị thương thì mảnh vải dù dùng để băng bó. Còn nếu không thể sống thì cũng mảnh vải dù ấy lại ôm gọn thân thể người chiến sĩ về với đất mẹ. Ông tôi cũng có vật bất ly thân là mảnh vải dù và chiếc võng dù màu trắng làm từ các sợi dây của những chiếc dù Pháp đã thả xuống Mường Thanh. Những đêm không mưa, ông tôi nằm trên chiếc võng đó, nghe tiếng côn trùng kêu và nhìn lên bầu trời Điện Biên đầy sao và nhớ về bầu trời quê nhà, ông cùng đồng đội càng khao khát ngày chiến thắng được đoàn tụ cùng gia đình.

Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ chấn động, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm De Castries. Sau phút vui mừng reo hò là giây phút ông tôi cùng đồng đội đứng lặng giữa lòng chảo Điện Biên Phủ, nơi ấy có bao đồng đội của ông đã nằm xuống, bao gian khổ đã đi qua. Chiếc võng dù được ông cuộn lại, vẫn cất giữ bên mình, chiếc võng là vật kỉ niệm để nhắc nhở ông tự do không phải tự nhiên mà có. Ông còn kể, điều ông yêu quý gắn bó với chiếc võng bởi chiếc võng ấy đã thấm mồ hôi của ông, đã bên ông trải qua những đêm thức trắng chờ lệnh. Nó đã từng cáng đồng đội của ông bị thương ra tuyến sau. Những vệt thâm nâu, đậm màu trên chiếc võng ấy chính là máu của đồng đội ông, hoặc có khi là đất trong hầm hào dính vào. Dù sau này ông có giặt bao nhiêu lần thì những vết đậm màu ấy cũng không sạch. Ông bảo đó là chứng tích của tình đồng đội, của chiến trường Điện Biên.

Sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ thắng lợi ông tôi vẫn chưa về quê hương, ông còn ở lại Điện Biên cùng đồng đội tái thiết lại vùng quê nghèo ấy. Đồng đội của ông có nhiều người đã nằm lại Điện Biên, có người sau chiến thắng đã ở lại để xây dựng Tây Bắc. Năm 1957 ông tôi mới phục viên trở về Thái Bình nơi có bà nội tôi, bố tôi và các cô chú đang mong chờ ông.

Năm 1965, khi đế quốc Mĩ xâm lược và thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, âm mưu tiêu diệt bộ đội chủ lực, bình định miền Nam và dùng không quân, hải quân phá hoại miền Bắc. Khi ấy bố tôi mười tám tuổi cũng theo gót ông xung phong ra trận. Bố tôi đã trở thành thanh niên xung phong được điều lên Lạng Sơn bảo vệ tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, bảo vệ “cảng nổi” nơi đón những chuyến tàu viện trợ, tiếp tế của các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Ngày bố tôi đi, ông nói:

- Bố rất vui mừng vì con đã trưởng thành, tiếp tục truyền thống của gia đình góp phần vào cuộc kháng chiến của dân tộc. Dù không trực tiếp ra mặt trận nhưng bảo vệ hậu phương cũng là làm nhiệm vụ. Tuyến đường sắt ấy là đường giao thông huyết mạch cũng sẽ trở thành tâm điểm đế quốc Mĩ phá hoại, sẽ khốc liệt lắm. Con ra đi bố chẳng có gì cho, bố chỉ trao lại cho con kỉ vật của bố là cái áo trấn thủ từ thời ở Điện Biên. Lạng Sơn rét lắm, con mang theo mặc khi mùa đông. Bố cũng cho con chiếc võng này, nó đã gắn bó với bố suốt những ngày chiến đấu ở Điện Biên. Những ngày chiến đấu trong rừng hay bất cứ nơi nào có chiếc võng con cũng có thể ngả lưng nghỉ ngơi khi ngừng tiếng súng.

Chiếc võng dù ấy đã được chuyển tiếp từ ông nội sang cho bố tôi sở hữu. Những ngày bố tôi làm nhiệm vụ chiếc võng cũng trở thành vật quan trọng mà bố tôi gìn giữ. Tại Lạng Sơn, bố tôi vừa là công nhân của Xí nghiệp Mỏ Đá, cung cấp đá cho đường sắt toàn miền Bắc, nơi nào bị bom Mĩ cày xới thì Xí nghiệp Mỏ Đá sẽ cung cấp đầy đủ để khắc phục sự tàn phá của bom đạn. Công trường Mỏ Đá cũng trở thành trọng điểm bị bom Mĩ tấn công phá hoại, những công nhân bất kể ngày đêm vừa bảo vệ công trường vừa đảm bảo sản xuất đủ sản lượng đá sửa đường và làm mới cả đường sắt và đường bộ. Tại đây bố tôi đã gặp mẹ tôi, cả hai là đồng nghiệp, đồng đội của nhau, bố mẹ tôi đã nên duyên. Chị gái tôi rồi anh trai tôi sinh ra vẫn trong thời kì chống Mĩ, có thời điểm cả mấy gia đình trú ẩn trong hang đá. Ngoài những chiếc giường đơn sơ làm từ cây rừng, ván gỗ thì chiếc võng dù của ông tôi lúc này giữ vai trò như cái nôi nâng đỡ anh, chị tôi và những đứa trẻ khác.

Tôi sinh ra khi đất nước thống nhất, tôi không còn nghe thấy những tiếng bom giữa giấc ngủ mà giật mình khóc thét lên như anh chị tôi đã trải qua. Nhưng tôi cũng được đặt trên chiếc võng dù trong tiếng ru của bố mẹ để đi vào giấc ngủ. Em trai tôi khi sinh ra cũng nằm trên chiếc võng ấy. Những ngày thơ bé, ngôi nhà gianh vách đất của gia đình tôi yên bình có giàn mướp trước sân. Chiếc võng dù của ông tôi được bố tôi buộc vào hai cái cột giàn mướp ấy. Có những lần tôi ngồi trên võng, anh trai tôi đưa võng, tiếng cười của bốn chị em tôi giòn giã trong sân, bên chiếc võng dù có khi cả tháng trời không tháo ra khỏi cột. Không chỉ có riêng chị em tôi mà khi chúng tôi đã trưởng thành, đã xây dựng gia đình, các cháu tôi cũng được nằm trên chiếc võng ấy, bố mẹ tôi vẫn cần mẫn đưa võng dỗ các cháu ngủ. Lúc này nghe bố kể, tôi nhớ về kỉ niệm ấy cũng bâng khuâng khó tả.

Vẫn cầm viếc võng trong tay, bố tôi nói:

- Giang ạ! Chiếc võng này không chỉ nối ông với bố, mà còn nối các con với lịch sử gia đình mình. Cả ông và bố mẹ đều đã đi qua chiến tranh, qua hai cuộc kháng chiến của đất nước. Đến thời các con đất nước đã hòa bình, chiếc võng đã chứng kiến các con sinh ra và lớn lên. Trong mấy chị em, có con là cô giáo dạy cả môn Văn và môn Lịch sử chắc con sẽ hiểu điều bố mong muốn. Bố chỉ muốn các con biết quý trọng cả những vật nhỏ bé mà có ý nghĩa với gia đình. Cái áo trấn thủ của ông bố đã không giữ được. Ông đã mất từ lâu, vật còn lại duy nhất bố giữ lại được là chiếc võng này. Chiếc võng này là kỉ vật của bố, bố muốn các con sau này cũng giữ nó, tự hào về truyền thống gia đình. Nếu trong bài giảng của mình có thể kể chuyện được con có thể kể chuyện trắng trời Mường Thanh là những chiếc dù của quân Pháp đã được các chiến sĩ ta biến thành vật hữu ích, thắm đượm nghĩa tình như chiếc võng này.

Tôi xúc động nhìn bố, tôi quả quyết nói với bố:

- Bố yên tâm, dù sau này bố không còn thì chị em chúng con cũng sẽ giữ cái võng này, vì nó cũng là kí ức của cả chúng con nữa.

Ngoài trời đã tạnh mưa, trời đã hửng lên, tôi cầm lấy chiếc võng trong tay bố, ngắm nghía một hồi. Rồi tôi lại lặng lẽ gấp gọn lại, cho vào túi rồi cất vào tủ như trước. Tôi thấy bố vui vẻ, phấn chấn vì một điều có lẽ bố đã ấp ủ từ lâu nay mới được nói ra.

Phí Thị Giang

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/chiec-vong-du-muong-thanh-5076316.html