Chiến dịch Biên giới 1950: Phá thế bao vây, mở rộng vùng giải phóng

76 năm sau Chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950, những địa danh Đông Khê, Cốc Xá, điểm cao 477... vẫn như những dấu son trên bản đồ lịch sử. Từ quyết định chọn Đông Khê làm nơi mở màn, quân và dân ta đã từng bước phá vỡ tuyến phòng thủ của địch trên đường số 4, đánh tan hai binh đoàn cơ động của quân Pháp, khai thông biên giới, tạo bước ngoặt quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang thế chủ động.

Hàng vạn người dân đã tích cực tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Tư liệu

Hàng vạn người dân đã tích cực tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Tư liệu

Theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm về những địa danh từng làm nên Chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950 trên vùng đất Cao Bằng. Núi Báo Đông vẫn xanh màu cây lá. Từ điểm cao này, trong những ngày tháng 9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp quan sát, theo dõi trận đánh Đông Khê - trận đánh mở màn Chiến dịch Biên giới.

Dưới chân núi, di tích Sở Chỉ huy chiến dịch nơi Ban Tác chiến, Ban Quân báo làm việc; hệ thống thông tin liên lạc, khu hậu cần; Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950... giúp chúng tôi hình dung phần nào không khí khẩn trương của một chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nắm thời cơ, mở chiến dịch lịch sử

Đầu năm 1950, tình hình quốc tế và trong nước có những chuyển biến quan trọng. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận. Lực lượng vũ trang ta từng bước trưởng thành, khả năng tổ chức, chỉ huy và tác chiến tập trung ngày càng được nâng lên.

Thực dân Pháp thực hiện kế hoạch mới, tập trung lực lượng mở rộng chiếm đóng vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ; ra sức phong tỏa biên giới; bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc.

Trong bối cảnh đó, tháng 6/1950, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới Cao - Bắc - Lạng. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tiến tới giành quyền chủ động trên chiến trường chính.

Ngày 7/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh ra Mệnh lệnh mở Chiến dịch Biên giới, còn gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong II, tiến công phòng tuyến của địch trên đường số 4, tập trung vào khu vực Cao Bằng - Thất Khê. Đây là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta, mang ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Bộ Chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Nhiều đơn vị chủ lực mạnh nhất lúc bấy giờ được tập trung cho chiến dịch, trong đó có Đại đoàn 308, Trung đoàn 174, Trung đoàn 209 cùng các lực lượng địa phương, pháo binh, công binh và bộ đội phối thuộc. Tổng lực lượng tham gia chiến dịch lên tới gần 3 vạn cán bộ, chiến sĩ.

Sơ đồ Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chỉ đạo Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Bích Nguyên

Sơ đồ Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chỉ đạo Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Bích Nguyên

Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết đánh thắng trận này”. Người cũng động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ phải kiên quyết, dũng cảm, ra sức thi đua giết giặc lập công.

Với tầm quan trọng của chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch, động viên quân dân chiến đấu. Sau khi nghiên cứu tình hình và cân nhắc phương án tác chiến, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chọn Đông Khê làm nơi mở màn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê buộc địch phải cho quân đi ứng cứu, ta có cơ hội thuận lợi tiêu diệt chúng trong vận động”.

Sáng 16/9/1950, quân ta tiến công cứ điểm Đông Khê. Tại Sở Chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên vị trí quan sát trên núi Báo Đông trực tiếp theo dõi trận đánh. Sau hơn 50 giờ chiến đấu quyết liệt, đến ngày 18/9/1950, quân ta hoàn toàn làm chủ Đông Khê, tiêu diệt và bắt toàn bộ quân địch trong cứ điểm.

“Đánh điểm, diệt viện” - biến thế mạnh của địch thành điểm yếu

Mất Đông Khê, quân Pháp đứng trước nguy cơ Cao Bằng bị cô lập. Để cứu vãn tình thế, địch buộc phải đưa quân cơ động lên ứng cứu. Binh đoàn Lơ-pa-giơ được điều từ hướng Thất Khê lên nhằm tái chiếm Đông Khê. Trong khi đó, binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút xuống, tìm cách hội quân với lực lượng ứng cứu để mở đường về Thất Khê.

Từ ngày 1/10 đến rạng sáng 4/10/1950, ta phục kích, đánh thiệt hại nặng binh đoàn Lơ-pa-giơ tại khu vực Đức Xuân, Khau Luông (cũ), buộc binh đoàn này chuyển hướng về Quảng Liệt (xã Trọng Côn cũ) để gặp binh đoàn Sác-tông.

Từ ngày 4/10/1950, các đơn vị chủ lực của ta bao vây, chia cắt hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông tại khu vực Cốc Xá, điểm cao 477, xã Trọng Côn. Ngày 6/10, quân ta tiến công Cốc Xá, đánh tan phần lớn lực lượng của binh đoàn Lơ-pa-giơ. Tại điểm cao 477, lực lượng Sác-tông tiếp tục bị bao vây, truy kích. Đến ngày 7/10/1950, Trung tá Sác-tông cùng toàn bộ ban tham mưu bị bắt. Ngày 8/10/1950, Trung tá Lơ-pa-giơ cùng một số sĩ quan trong ban tham mưu cũng bị bắt.

Trên đà thắng lợi, bộ đội ta nhanh chóng truy kích địch, giải phóng một vùng rộng lớn từ Thất Khê đến Đình Lập (tỉnh Lạng Sơn).

Ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi sau 29 ngày đêm chiến đấu. Theo các tài liệu tổng kết, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.300 quân địch; thu trên 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh. Ta giải phóng một vùng biên giới rộng lớn, dài khoảng 750km, với khoảng 35 vạn dân. Tuyến biên giới được khai thông với thế giới, căn cứ địa Việt Bắc được củng cố và mở rộng.

Vũ khí quân ta thu được trong trận đánh Đông Khê, hiện được trưng bày tại Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950. Ảnh: Bích Nguyên

Vũ khí quân ta thu được trong trận đánh Đông Khê, hiện được trưng bày tại Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950. Ảnh: Bích Nguyên

Nguyên vẹn giá trị lịch sử và thời đại

76 năm sau Chiến thắng Biên giới, thắng lợi này vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Ý nghĩa lớn nhất của chiến thắng là làm thay đổi thế trận. Lần đầu tiên, quân đội ta tổ chức và thực hành thành công một chiến dịch tiến công quy mô lớn, huy động tập trung lực lượng chủ lực, phối hợp nhiều lực lượng, tiến công liên tục trong thời gian dài và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật. Nghệ thuật “đánh điểm, diệt viện”, vận động tiến công, bao vây, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận của địch được vận dụng đạt hiệu quả cao.

Sau Chiến thắng Biên giới, quân Pháp buộc phải chuyển dần sang thế phòng ngự; quân ta từng bước giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Trong những tháng tiếp theo, các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung lần lượt được mở, đánh dấu bước phát triển mới của lực lượng vũ trang ta.

Chiến thắng Biên giới cũng mở thông tuyến biên giới Việt - Trung, phá thế bao vây, cô lập của địch, tạo điều kiện để Việt Nam mở rộng liên lạc với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, tiếp nhận sự chi viện quốc tế cho cuộc kháng chiến. Căn cứ địa Việt Bắc được củng cố, mở rộng, trở thành hậu phương chiến lược ngày càng vững chắc.

Giá trị sâu xa hơn của Chiến thắng Biên giới thể hiện ở chỗ Quân đội ta đã chứng minh rằng, một lực lượng còn non trẻ hoàn toàn có thể tổ chức những chiến dịch tiến công lớn, biết lựa chọn mục tiêu, biết tạo thế, tạo thời cơ và biết biến sức mạnh của toàn dân thành sức mạnh chiến đấu.

Chiến thắng Biên giới 1950 mãi mãi là dấu son trong lịch sử dân tộc. Những bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng lực lượng, xây dựng quân đội, chủ động nắm thời cơ, phát huy trí tuệ và nghệ thuật tổ chức lực lượng của chiến thắng này vẫn nguyên vẹn giá trị đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Bích Nguyên

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/chien-dich-bien-gioi-1950-pha-the-bao-vay-mo-rong-vung-giai-phong-post508568.html