Chiến trận và nghĩa tình ở Cheo Reo - Đường 7

Đầu tháng 3-1975, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) đang tiến công giải phóng Buôn Hồ và tiếp tục phát triển truy quét tàn quân địch ở Chư Pao, Đạt Lý thì bất ngờ nhận được lệnh cấp trên cấp tốc cơ động về Nam Cheo Reo chặn địch rút chạy từ Pleiku. Vừa hành quân, đơn vị vừa quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu.

Trung đoàn lệnh hành quân bộ, cứ dọc Đường 14, xe quân sự gặp đơn vị nào đi trước thì đón trước theo kiểu cuốn chiếu. Hành quân bộ dưới trời nắng nóng, gần tối, xe ô tô đổ quân xuống chân núi Chư Be Lang (Điểm cao 396) cách Cheo Reo hơn 10km, thì lại nhận lệnh vượt núi ngay trong đêm để sáng mai kịp chặn địch. Hành quân đến gần sáng, cách cầu Sông Bờ gần 2km, chưa đào xong công sự thì máy bay, pháo binh địch đã bắn phá dọn đường rút chạy.

Phía cầu Sông Bờ, tiếng xe tăng, xe bọc thép của địch gầm rú, tiếng súng pháo của ta và địch rung chuyển núi rừng. Quân địch cắt rừng tháo chạy, bị chúng tôi chặn đánh, chúng chống trả yếu ớt rồi vứt súng đầu hàng. Cả ngày hôm ấy, chúng tôi tiêu diệt và bắt hàng trăm tên. Đêm xuống, các đơn vị phối hợp chiếm giữ Đường 7, tiếp tục bắt tù binh và thu hồi vũ khí quân địch vứt lại bừa bãi trên đường tháo chạy.

Đại tá Khuất Duy Hoan. Ảnh: CHÍ DŨNG

Đại tá Khuất Duy Hoan. Ảnh: CHÍ DŨNG

Trận đánh kết thúc thắng lợi sau gần 3 ngày chiến đấu, toàn bộ lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2-Quân khu 2 của địch từ Pleiku rút chạy bị tiêu diệt và bị bắt. Ý đồ lui về phòng thủ duyên hải miền Trung hòng tái chiếm Tây Nguyên của Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh quân ngụy Sài Gòn thất bại. Tây Nguyên giải phóng đã tạo nên đột biến chiến lược quan trọng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cùng với kỷ niệm sâu sắc trong trận đánh đặc biệt này, còn có những câu chuyện thấm đậm tình nhân nghĩa bên dòng sông Ba. Cuối chiều, sau khi trận đánh kết thúc, Tiểu đội 8, Trung đội 3, Đại đội 7 (Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 64) đang truy quét tàn quân địch ở gần bờ sông Ba thì bắt gặp một tên lính ngụy núp trong bụi cây trâm bầu, tay ôm khư khư một chiếc làn nhựa. Tôi quát “Giơ tay lên!”. Hắn đặt vội cái làn xuống đất, chắp hai tay vái như tế sao, miệng lắp bắp “Con lạy các ông giải phóng, các ông bắt con cũng được, bắn con cũng được nhưng xin hãy tha cho con gái của con được sống làm người”, rồi tay run rẩy chỉ vào cái làn, khuôn mặt hốc hác, lem luốc ướt nhòe nước mắt. Chúng tôi nhìn vào làn thì thấy một hài nhi được quấn vụng về trong mảnh áo lính. Tên lính ngụy kể: “Con là lính Quân đoàn 2, cùng vợ chạy từ Pleiku xuống đây, dọc đường vợ con sổ dạ sinh ra đứa bé này, rồi cô ấy mất luôn”. Chợt có tiếng đạn pháo rít trên đầu, như một phản xạ tự nhiên, cả 5 anh em trong Tiểu đội khom lưng cúi xuống che cái làn.

Chúng tôi viết cho tên lính giấy chứng nhận Quân giải phóng đã tha để hắn vào ấp xin sữa cho con; cán bộ, chiến sĩ gom hộp sữa, lương khô đưa cho tên lính ngụy. Tôi móc trong đáy ba lô ra tờ 10 đồng tiền miền Bắc đưa cho hắn và bảo: “Cất đi, biết đâu có ngày dùng được”. Tên lính ngụy ngơ ngác nhìn chúng tôi rồi sụp lạy và liêu xiêu vội vã xách cái làn có đứa trẻ sơ sinh chạy vào trong buôn trước những ánh mắt thương cảm và ái ngại của chúng tôi. Hơn 50 năm đã trôi qua, không biết người lính ấy cùng con gái đang làm gì, sống ở đâu. Chỉ nhớ rằng ngày ấy, chúng tôi đã làm được một việc nhân nghĩa của người chiến sĩ Quân giải phóng...

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quan-su-the-gioi/nghe-thuat-quan-su-the-gioi/chien-tran-va-nghia-tinh-o-cheo-reo-duong-7-1031410