Chính phủ quy định trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu, đặt ra tỷ lệ bắt buộc nhằm siết chặt quản lý cũng như trách nhiệm của bên liên quan.
Quy định rõ đối tượng và trách nhiệm tái chế
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.
Theo quy định, các nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì quy định tại Phụ lục I của Nghị định khi đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì đó theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc quy định tại Nghị định này.

Nghị định quy định tỷ lệ tái chế sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm một lần, với mức tăng không quá 10% mỗi lần. Ảnh minh họa
Nghị định cũng làm rõ các trường hợp cụ thể nhằm xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm. Cụ thể như trường hợp sản phẩm, bao bì có cùng nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều nhà sản xuất khác nhau thì tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế. Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất là bên nhận gia công sản phẩm, bao bì cho bên đặt gia công, bên đặt gia công là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế.
Nghị định cũng nêu rõ: bao bì quy định trên là bao bì thương phẩm (bao gồm cả loại bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của sản phẩm, hàng hóa sau đây: Thực phẩm theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm (trừ kẹo cao su); mỹ phẩm theo quy định của Chính phủ về điều kiện sản xuất mỹ phẩm; thuốc theo quy định của pháp luật về dược; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y theo quy định của pháp luật về phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và hoạt động sinh hoạt; xi măng.
Nghị định quy định các đối tượng không phải thực hiện trách nhiệm tái chế như nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường; nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm quy định ở trên dưới 30 tỷ đồng/năm…
Quy định rõ tỷ lệ tái chế và cơ chế hỗ trợ
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể về tỷ lệ tái chế bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ tái chế sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm một lần, với mức tăng không quá 10% mỗi lần. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029. Cơ chế này giúp doanh nghiệp có thời gian thích nghi, đồng thời tạo áp lực nâng cao hiệu quả tái chế theo lộ trình.
Nghị định cũng chỉ ra trường hợp nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn hình thức tổ chức tái chế theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường, nhà sản xuất, nhập khẩu tự quyết định việc tái chế theo các cách thức sau đây: Tự thực hiện tái chế hoặc sử dụng sản phẩm, bao bì thải bỏ làm nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm, bao bì; hợp đồng với đơn vị tái chế; ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế như tự tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức chuyên trách. Điều này tạo sự linh hoạt, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, tất cả các đơn vị tham gia tái chế đều phải đáp ứng yêu cầu về giấy phép môi trường theo quy định.
Bên cạnh quy định bắt buộc, Nghị định cũng thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế. Theo đó, các đơn vị tái chế hoặc tổ chức trách nhiệm tái chế có thể đề nghị hỗ trợ kinh phí dựa trên khối lượng sản phẩm, bao bì đã tái chế đạt chuẩn.
Giá trị tối đa của mỗi gói hỗ trợ được quy định rõ, dao động từ 10 tỷ đến 20 tỷ đồng tùy theo nhóm sản phẩm. Quy trình xét duyệt hỗ trợ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hằng năm, với mốc thời gian cụ thể. Trước ngày 1/6, cơ quan quản lý sẽ công bố các gói hỗ trợ; trước ngày 1/7, doanh nghiệp nộp hồ sơ và trong vòng 25 ngày làm việc sau đó sẽ hoàn tất việc xét duyệt. Sau đó, kết quả sẽ được công bố công khai.
Đáng chú ý, nếu đơn vị được hỗ trợ không ký hợp đồng trong thời hạn quy định gói hỗ trợ sẽ bị hủy và không được tham gia trong 5 năm tiếp theo.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 25/5/2026. Với những quy định chặt chẽ, đồng bộ, văn bản này được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý chất thải, thúc đẩy tái chế và góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, bền vững tại Việt Nam.











