Chính sách phát triển năng lực lượng tử quốc gia: Gợi mở từ kinh nghiệm EU cho Việt Nam
Dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn của Liên minh châu Âu (EU) trong phát triển công nghệ lượng tử ở quy mô công nghiệp, Việt Nam có thể xem xét một số định hướng chính sách nhằm từng bước hình thành năng lực quốc gia trong lĩnh vực chiến lược này.
Nhận định trên được Giáo sư Nguyễn Lương Quang, thành viên Mạng lưới Lượng tử Việt Nam đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Brussels.

Công nghiệp bán dẫn. Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN
Theo Giáo sư, trong ngắn và trung hạn, cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực lượng tử chất lượng cao. Việt Nam cần sớm xây dựng các chương trình đào tạo liên ngành về lượng tử, quang tử, vi mạch và trí tuệ nhân tạo (AI) tại các trường đại học trọng điểm, đồng thời hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng tham gia vào mạng lưới hợp tác quốc tế. Việc thiết lập học bổng dài hạn, chương trình thực tập tại các phòng thí nghiệm lượng tử ở châu Âu và cơ chế thu hút chuyên gia kiều bào là những giải pháp có tính khả thi và đem lại hiệu quả nhanh chóng.
Ông cho rằng Việt Nam cũng cần từng bước xây dựng hạ tầng nghiên cứu và thử nghiệm lượng tử trong nước. Thay vì đầu tư dàn trải, Việt Nam có thể bắt đầu bằng việc phát triển các phòng thí nghiệm quang – photonics và mô phỏng lượng tử, kết nối với hạ tầng tính toán lượng tử từ xa của châu Âu để giảm chi phí ban đầu. Điều này giúp Việt Nam có môi trường thử nghiệm mà không cần đầu tư ngay lập tức vào các hệ thống phần cứng phức tạp.
Theo Giáo sư Nguyễn Lương Quang, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị lượng tử toàn cầu. Các doanh nghiệp công nghệ lớn, doanh nghiệp điện tử – viễn thông và doanh nghiệp phần mềm Việt Nam có thể nghiên cứu khả năng tham gia vào các mảng như phát triển phần mềm lượng tử, tối ưu hóa công nghiệp bằng thuật toán lượng tử, sản xuất linh kiện quang học chính xác hoặc thiết kế mạch tích hợp dùng cho hệ lượng tử. Chính phủ có thể hỗ trợ thông qua ưu đãi thuế, quỹ đổi mới sáng tạo và chương trình đặt hàng công.
Giáo sư Nguyễn Lương Quang khuyến nghị thúc đẩy hợp tác quốc tế sâu rộng với EU. Việt Nam cần xây dựng cơ chế hợp tác song phương với Pháp, Đức, Hà Lan, Phần Lan và Tây Ban Nha, những quốc gia đi đầu trong hệ sinh thái lượng tử châu Âu. Các hình thức hợp tác bao gồm cùng phát triển dự án nghiên cứu, đào tạo cao học, triển khai thí điểm ứng dụng lượng tử trong ngành ngân hàng, năng lượng, đô thị thông minh và an ninh mạng. Cuối cùng, giáo sư cho rằng cần chuẩn bị hành lang pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp. Việt Nam có thể nghiên cứu các bộ tiêu chuẩn bảo mật lượng tử của châu Âu, từ đó xây dựng chuẩn quốc gia về phân phối khóa lượng tử, truyền thông bảo mật và tích hợp lượng tử – cổ điển, đảm bảo khả năng tương thích khi triển khai ứng dụng trong tương lai.
Về dài hạn, Giáo sư Nguyễn Lương Quang khẳng định trong bối cảnh thế giới bước vào giai đoạn cạnh tranh về công nghệ chiến lược, Việt Nam cần định vị phát triển lượng tử như một cấu phần của chiến lược khoa học – công nghệ quốc gia. Một số định hướng dài hạn có thể bao gồm một là xây dựng lộ trình phát triển công nghệ lượng tử cấp quốc gia theo từng giai đoạn. Giai đoạn 2025–2030 tập trung vào đào tạo nhân lực, phát triển phần mềm lượng tử, ứng dụng lượng tử trong trí tuệ nhân tạo và thử nghiệm truyền thông lượng tử. Giai đoạn 2030–2035 có thể mở rộng sang thiết kế linh kiện quang học, phát triển mô-đun lượng tử quy mô nhỏ và hình thành trung tâm mô phỏng lượng tử quốc gia. Từ sau năm 2035, tùy theo năng lực tích lũy, Việt Nam có thể xem xét tham gia sâu vào chuỗi cung ứng phần cứng lượng tử.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần hình thành cụm nghiên cứu công nghiệp lượng tử tại một số địa phương trọng điểm. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có thể trở thành ba trung tâm chính, gắn với các trường đại học lớn và doanh nghiệp công nghệ trọng điểm, tương tự mô hình Paris–Saclay của Pháp hay Eindhoven của Hà Lan. Ba là phát triển chiến lược gắn kết lượng tử với chuyển đổi số quốc gia. Các lĩnh vực như ngân hàng số, chính phủ số, y tế số và hạ tầng thông minh đều có nhu cầu bảo mật và mô phỏng dữ liệu ở mức cao, phù hợp với hướng phát triển ứng dụng lượng tử trong giai đoạn đầu của Việt Nam. Thứ 4 là tăng cường vai trò cầu nối của cộng đồng khoa học Việt Nam ở nước ngoài. Đây là nguồn lực có giá trị đặc biệt, gồm các chuyên gia đang trực tiếp tham gia vào các ngành công nghệ lượng tử của châu Âu. Việt Nam cần có cơ chế khuyến khích hợp tác, trao đổi chuyên môn và chuyển giao tri thức để tận dụng hiệu quả nguồn lực này. Thứ năm là xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ sâu phục vụ phát triển lượng tử. Một quỹ đầu tư chuyên biệt, kết hợp nguồn lực nhà nước và tư nhân, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn tham gia nghiên cứu và ứng dụng công nghệ lượng tử ở giai đoạn sớm.
Giáo sư Nguyễn Lương Quang khuyến nghị chính phủ xem công nghệ lượng tử như một lĩnh vực mang tính chiến lược dài hạn, có vai trò tương tự các trụ cột công nghệ nền tảng khác như vi mạch, AI và an ninh mạng. Do đó, cần xây dựng Chiến lược Quốc gia về Công nghệ Lượng tử đến năm 2045, trong đó xác định rõ các giai đoạn trọng tâm: đào tạo nhân lực; phát triển phần mềm và mô phỏng lượng tử; thử nghiệm bảo mật lượng tử; từng bước tham gia chuỗi cung ứng linh kiện chuyên dụng. Chính phủ cũng cần thiết lập cơ chế liên bộ để bảo đảm phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành trong triển khai các dự án lượng tử, tránh phân tán nguồn lực, đồng thời tạo điều kiện cho các viện nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia sâu vào mạng lưới hợp tác quốc tế, đặc biệt với EU.
Nhấn mạnh công nghệ lượng tử mang ý nghĩa chiến lược đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong bối cảnh xuất hiện nguy cơ các hệ mã hóa truyền thống có thể bị phá vỡ trong tương lai, Giáo sư Nguyễn Lương Quang khuyến nghị Bộ Quốc phòng xây dựng lộ trình chuyển đổi sang hệ mật mã kháng lượng tử trong quân đội và hạ tầng chỉ huy - điều khiển. Phát triển phòng thí nghiệm quốc phòng về cảm biến lượng tử, đo lường chính xác cao và mô phỏng chiến trường, làm nền tảng cho thế hệ khí tài mới. Đầu tư thử nghiệm phân phối khóa lượng tử trong hệ thống thông tin quân sự, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để bảo đảm khả năng liên thông và an toàn. Tăng cường hợp tác với các nước châu Âu trong huấn luyện, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực mô phỏng lượng tử và cảm biến lượng tử. Tận dụng nguồn chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài để rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ và xây dựng đội ngũ nòng cốt.
Trong bối cảnh Bộ Công an đang thu hút nhân tài, thúc đẩy nghiên cứu công nghệ cao và phát triển an ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, lĩnh vực lượng tử cần được xem là một trong những mũi nhọn ưu tiên, Giáo sư Nguyễn Lương Quang khuyến nghị Bộ Công an có thể xem xét đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm bảo mật lượng tử trong các hệ thống thông tin trọng yếu, bao gồm phân phối khóa lượng tử, bảo mật truyền dẫn đường dài và các thuật toán kháng lượng tử. Thu hút chuyên gia người Việt tại châu Âu trong các lĩnh vực quang lượng tử, vi mạch lượng tử và công nghệ mô phỏng, thông qua cơ chế đặc thù của Quỹ An ninh mới, tạo điều kiện cho họ tham gia đào tạo, cố vấn hoặc dẫn dắt nhóm nghiên cứu. Hợp tác với các quốc gia EU triển khai các dự án thử nghiệm bảo mật lượng tử xuyên biên giới, học tập mô hình EuroQCI, từ đó xây dựng mạng truyền thông bảo mật lượng tử Việt Nam phục vụ cơ quan nhà nước và quốc phòng – an ninh. Hình thành các phòng thí nghiệm trọng điểm về mật mã lượng tử và thiết bị an ninh lượng tử, sử dụng cơ chế đầu tư dài hạn, qua đó nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ an ninh trong bối cảnh xuất hiện các mối đe dọa mới liên quan đến tính toán lượng tử.
Ngoài ra, Giáo sư Nguyễn Lương Quang khuyến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng Chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử, bao gồm: Hỗ trợ hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực lượng tử – quang tử – vi mạch; Đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm về mô phỏng lượng tử, cảm biến lượng tử và thiết bị quang lượng tử; Tạo cơ chế tài trợ linh hoạt cho các dự án mạo hiểm khoa học (deep-tech), theo mô hình hỗ trợ của châu Âu cho các dây chuyền thí điểm; Kết nối doanh nghiệp Việt Nam với hệ sinh thái lượng tử châu Âu để triển khai các dự án chuyển giao công nghệ. Bộ cũng cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về lượng tử, bảo đảm khả năng tương thích với tiêu chuẩn quốc tế và phục vụ triển khai ứng dụng bảo mật lượng tử trong tương lai.
Với Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo sư khuyến nghị xây dựng các chương trình đại học và sau đại học chuyên sâu về lượng tử, quang tử tích hợp, vi mạch lượng tử và toán tính toán; Hỗ trợ các trường đại học liên kết với viện nghiên cứu và doanh nghiệp để hình thành “trung tâm đổi mới lượng tử”; Thiết lập chương trình học bổng quốc gia trong lĩnh vực lượng tử, cho phép sinh viên và nghiên cứu sinh thực tập tại các phòng thí nghiệm lượng tử ở Pháp, Đức, Hà Lan và Phần Lan; Khuyến khích mô hình “giảng viên – nhà nghiên cứu kết hợp”, cho phép chuyên gia ở nước ngoài tham gia giảng dạy theo hình thức từ xa hoặc ngắn hạn.
Giáo sư Nguyễn Lương Quang cho rằng các doanh nghiệp công nghệ trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp viễn thông, phần mềm, điện tử và năng lượng, có thể tận dụng công nghệ lượng tử để nâng cao năng lực cạnh tranh. Một số định hướng gồm: Đầu tư phát triển phần mềm lượng tử, thuật toán tối ưu hóa lượng tử và mô phỏng vật liệu lượng tử - những lĩnh vực phù hợp với lợi thế kỹ thuật phần mềm của Việt Nam; Thử nghiệm ứng dụng lượng tử trong trí tuệ nhân tạo, đặc biệt trong sinh dữ liệu cho mô hình học sâu, phát hiện tấn công mạng và tối ưu hệ thống giao thông – logistic; Hợp tác với các doanh nghiệp châu Âu như Quandela, Pasqal, IQM… để tiếp cận công nghệ phần cứng lượng tử, thử nghiệm ứng dụng trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, năng lượng hoặc y tế; Xem xét khả năng tham gia chuỗi cung ứng linh kiện quang học, bán dẫn chuyên dụng, nơi Việt Nam có thể phát triển năng lực trong trung hạn.

