Chống lãng phí - Bài 7: Đi tìm hiệu quả thực trong dòng vốn siêu dự án

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, cần nhìn thẳng vào bài toán lãng phí thay vì chạy theo những số ảo từ các siêu dự án, để không tước đoạt cơ hội của tương lai.

Bài học từ những "siêu dự án"

Trong bối cảnh Việt Nam đang nuôi dưỡng khát vọng trở thành quốc gia hùng cường với mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc đầu tư vào các siêu dự án hạ tầng được xem là động lực then chốt. Tuy nhiên, nhìn từ lăng kính của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, thực trạng triển khai các dự án trọng điểm hiện nay đang bộc lộ những "điểm nghẽn" đáng quan ngại về tư duy quy hoạch và bài toán hiệu quả kinh tế.

Dự án sân bay Long Thành. Ảnh: Hoàng Anh

Dự án sân bay Long Thành. Ảnh: Hoàng Anh

Bài học từ sân bay Long Thành và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam chính là minh chứng rõ nét cho cái bẫy của những "con số ảo" bởi các tính toán dự báo thường không bám sát thực tế đời sống.

Một trong những sai lầm sơ đẳng nhất, theo bà Lan, chính là sự lạc quan quá mức về nhu cầu thị trường. Tại dự án sân bay Long Thành với mức đầu tư lên đến 16 tỷ USD, các con số về lượng hành khách quốc tế được đưa ra dựa trên một hình dung quá lớn. Dự án này được thiết kế với công suất lên tới 25 triệu hành khách ngay trong giai đoạn đầu và hướng tới 100 triệu hành khách mỗi năm trong dài hạn. Trong khi đó, khả năng thực tế để đạt được con số này trong tương lai gần vẫn là một dấu hỏi lớn.

Tương tự, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam cũng đối mặt với những nghi ngại về tính khả thi. Giá vé chặng Hà Nội - TP.HCM thấp nhất dự kiến 1,7 triệu đồng trong khi khi thu nhập bình quân đầu người năm 2025 của Việt Nam cũng chỉ mới đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, theo số liệu từ Cục Thống kê, tương đương 70,8 triệu đồng. Với người lao động, mức thu nhập bình quân đạt khoảng 100,8 triệu đồng mỗi năm.

Với mức chi trả này, bà Lan cho rằng, đa số cư dân khó lòng lựa chọn một phương thức vận tải có giá vé cao ngang ngửa hàng không, đặc biệt là khi phải cạnh tranh khốc liệt với các hãng bay giá rẻ vốn đang vận hành rất hiệu quả.

Lãng phí không chỉ nằm ở vốn đầu tư khổng lồ mà còn hiện hữu trong sự thiếu đồng bộ và rời rạc của mạng lưới giao thông. Điển hình là việc sân bay Long Thành được quy hoạch tách biệt hoàn toàn với sân bay nội địa số một là Tân Sơn Nhất mà không có sự kết nối giao thông cấp tập ngay từ đầu.

Sự thiếu vắng tư duy "mạng lưới" khiến các dự án trở nên lạc lõng. Ngay cả dự án đường sắt cũng đang bộc lộ sự lỗi thời khi kế hoạch đặt 23 nhà ga hành khách dựa trên cơ cấu 63 tỉnh thành cũ, trong khi thực tế sáp nhập địa phương hiện nay chỉ còn khoảng 34 tỉnh thành.

Nếu không tính toán lại vị trí các nhà ga để phù hợp với địa bàn hành chính mới, chúng ta sẽ tiếp tục sa vào vết xe đổ của việc đầu tư không tương xứng với nhu cầu sử dụng thực tế.

Đáng quan ngại hơn cả, theo bà Lan, là gánh nặng nợ nần đè nặng lên vai các thế hệ mai sau. Việc vay vốn nước ngoài lên tới hàng chục tỷ USD trong khi năng lực công nghệ và công nghiệp nội địa chưa sẵn sàng sẽ khiến đất nước rơi vào tình trạng lệ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài.

Bà cho rằng, trách nhiệm của thế hệ đi trước là để lại của cải, di sản chứ không phải là những món nợ khổng lồ tước đoạt cơ hội phát triển của tương lai. Việc đầu tư dàn trải theo kiểu "phát động hàng trăm dự án" mỗi dịp kỷ niệm mà thiếu sự chọn lọc ưu tiên sẽ chỉ dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực vốn đã hạn hẹp của quốc gia.

Thay vì dồn toàn lực vào những dự án có thời gian hoàn vốn quá dài và hiệu quả mơ hồ, nguồn lực cần được ưu tiên tập trung vào những đầu tàu kinh tế đang thực sự bị ách tắc như khu vực TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Với chi phí logistics hiện đang chiếm tới hơn 20% GDP, cao gấp đôi so với các nước phát triển, thì việc giải quyết hạ tầng tại trung tâm kinh tế phía Nam sẽ mang lại lợi ích cấp thiết và rõ rệt hơn nhiều.

Bà Lan cho rằng, chỉ cần một phần nguồn vốn so với con số 57 tỷ USD của đường sắt tốc độ cao, nếu được đầu tư đúng chỗ để khơi thông điểm nghẽn tại TP.HCM, toàn bộ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có thể bừng dậy và đạt mức tăng trưởng trên 10% chỉ trong vòng 5 - 10 năm tới. Đây chính là bài toán thực tế về chất lượng và hiệu quả tăng trưởng mà Việt Nam cần lời giải đáp thay vì mãi chạy theo những con số danh nghĩa đầy rủi ro.

Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 ở Ninh Bình. Ảnh Hoàng Anh

Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 ở Ninh Bình. Ảnh Hoàng Anh

Khi cơ hội và trí tuệ bị lãng phí

Trong dòng chảy của nền kinh tế, lãng phí không chỉ hiện hữu ở những công trình đắp chiếu hay những dự án nghìn tỷ thua lỗ. Lãng phí còn nằm ở những giá trị vô hình nhưng để lại tổn thất sâu sắc hơn cả tiền bạc như cơ hội, thời gian và trí tuệ con người.

Nhìn lại hành trình gần 40 năm Đổi mới, chuyên gia Phạm Chi Lan trăn trở về những nhịp điệu phát triển bị lỡ dở, khi Việt Nam từng có những thời cơ vàng để bứt phá nhưng lại đánh mất cơ hội của chính mình.

Điển hình là việc chậm trễ trong bình thường hóa quan hệ với Mỹ hay cách chúng ta bước vào sân chơi WTO. Thay vì dùng "biển lớn" để nâng tầm đoàn thuyền thúng của doanh nghiệp nội địa thành những con tàu lớn, chúng ta lại quá mải mê mở cửa cho khối ngoại trong khi để doanh nghiệp trong nước loay hoay, thậm chí bị đẩy ngược về "ao làng".

Sự lãng phí thời gian này còn nặng nề hơn khi đặt trong phép so sánh với các "con rồng" châu Á. Trong khi Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore chỉ mất khoảng 30 - 35 năm để hóa rồng và trở thành những nền kinh tế thu nhập cao thì Việt Nam sau 40 năm Đổi mới chỉ vừa vượt ngưỡng thu nhập trung bình thấp.

Đây không chỉ là sự chậm trễ về mặt con số mà là sự đánh đổi bằng cả một thế hệ phát triển khi tài nguyên quốc gia bị khai thác thô và xuất khẩu thay vì được chế biến sâu để tạo giá trị gia tăng.

Những quan điểm như "mai sau thế hệ con cháu tài giỏi hơn chúng ta sẽ làm thay" trước lo lắng về việc trả những khoản nợ khổng lồ cho hàng loạt dự án xa xỉ đã biến những di sản lẽ ra phải để dành thành những gánh nặng nợ nần đè nặng lên tương lai.

Theo bà Lan, một trong những "điểm nghẽn của điểm nghẽn" dẫn đến sự lãng phí cơ hội chính là hệ thống thể chế và sự bùng nổ của các "giấy phép con".

Sau những nỗ lực xóa bỏ rào cản từ Luật Doanh nghiệp 1999, một nghịch lý đã xảy ra khi hậu gia nhập WTO, các quy định chuyên ngành lại khôi phục hàng trăm nghìn giấy phép con, siết chặt không gian sinh tồn của khu vực tư nhân.

Sự thiếu liên tục và tính bất ổn của chính sách theo kiểu "nay ban hành, mai áp dụng" mà điển hình là những nghị định gây ách tắc hàng hóa ngay sát Tết Bính ngọ vừa qua đã không chỉ gây tổn thất kinh tế mà còn bào mòn niềm tin trầm trọng trong nhân dân và cộng đồng kinh doanh. Khi niềm tin bị tổn thương, động lực đổi mới sáng tạo cũng bị triệt tiêu, biến mọi nghị quyết tốt đẹp trở nên xa rời thực tiễn thực thi.

Cuối cùng, nỗi đau lớn nhất của sự lãng phí phi vật thể chính là sự “rẻ rúng” đối với trí tuệ và nguồn lực con người. Việt Nam tự hào có lực lượng lao động cần cù nhưng lại chủ yếu được khai thác như tài nguyên giá rẻ trong các dây chuyền lắp ráp thủ công.

Trong khi đó, nguồn vốn trí tuệ tinh hoa lại bị bỏ ngỏ với hơn hàng trăm viện nghiên cứu sử dụng ngân sách nhưng kết quả chủ yếu là "để ngăn kéo", không thể đưa ra thị trường hay phục vụ xã hội. Hệ quả tất yếu là tình trạng "chảy máu chất xám" khi những người giỏi nhất quyết định ở lại nước ngoài vì thiếu một môi trường làm việc và kết nối chuyên nghiệp trong nước.

Nếu không sớm thay đổi tư duy quản trị và đầu tư cho công nghệ, những quốc sách hàng đầu có thể sẽ bị biến thành "quốc sách đầu hàng", tiếp tục lãng phí nguồn lực kiều bào và mạng lưới trí thức toàn cầu vốn là chìa khóa để Việt Nam bứt tốc trong kỷ nguyên mới.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Hợp lực vì một Việt Nam hùng cường

Để giải phóng các nguồn lực quốc gia và hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một cuộc cách mạng trong tư duy quản trị, bắt đầu từ việc kỹ trị hóa bộ máy quản lý. Thay vì duy trì lối điều hành mang nặng tính hành chính và điều động nhân sự mang tính chính trị, hệ thống cần chuyển mình sang quản trị chuyên nghiệp.

Theo quan điểm của bà Lan, trừ vị trí Bộ trưởng là vị trí chính trị, các cấp từ Thứ trưởng trở xuống nên là những chuyên gia kỹ trị thực thụ để đảm bảo tính liên tục và chuyên sâu trong chuyên môn.

Việc đưa những nhân sự không đúng chuyên môn vào điều hành các bộ máy kỹ thuật phức tạp không chỉ gây xáo trộn mà còn có thể làm đảo lộn những hệ thống đang vận hành tốt.

Song song với việc chuyên nghiệp hóa bộ máy, một mô hình cộng sinh thực chất giữa Nhà nước và tư nhân (PPP) cần được xác lập trên nguyên tắc không coi nhau là đối thủ cạnh tranh theo kiểu "bên thắng bên thua". Trong các siêu dự án như đường sắt tốc độ cao, thay vì để các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân tự làm khó nhau, một liên danh nội địa sẽ là lời giải tối ưu để cùng thắng.

Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc nắm giữ hạ tầng chiến lược, quy hoạch mạng lưới và giám sát tiêu chuẩn, trong khi doanh nghiệp tư nhân sẽ phát huy tối đa sự linh hoạt về tài chính, khả năng huy động công nghệ và xây lắp.

Bài học rút ra, theo bà Lan, là những gì tư nhân đã làm tốt hoặc có tiềm năng làm tốt hơn thì Nhà nước nên tạo điều kiện thay vì đầu tư chồng chéo gây lãng phí nguồn vốn quốc gia.

Nguyên tắc vàng vẫn nên là cái gì tư nhân đang làm tốt hoặc có thể làm tốt hơn thì hãy để cho tư nhân làm. Doanh nghiệp nhà nước nên tập trung vào những mảng công nghệ mới, hệ thống nền tảng mà tư nhân chưa vươn tới được.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Tuy nhiên, mọi cơ chế hợp tác sẽ trở nên vô hiệu nếu không giải quyết được "căn bệnh" sợ trách nhiệm và tâm lý "đá bóng" đang bủa vây hệ thống. Thực trạng né tránh quyết định vì lo ngại rủi ro pháp lý đang khiến bộ máy trì trệ, tước đoạt những cơ hội phát triển quý giá.

Để khơi thông "điểm nghẽn của điểm nghẽn" này, hệ thống quản trị ở các cấp thực thi cần phải chuyển mình đồng bộ với tinh thần đổi mới thể chế của lãnh đạo cấp cao, tạo ra cơ chế thực chất để bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Chỉ khi cấp thực thi đồng lòng và tin tưởng vào hành lang pháp lý, các chính sách mới có thể đi vào cuộc sống thay vì chỉ dừng lại ở những nghị quyết trên giấy.

Cuối cùng, sức mạnh bền vững nhất để bứt phá chính là việc ưu tiên phát triển nội lực, đặc biệt là nguồn vốn trí tuệ khổng lồ từ doanh nghiệp trong nước và cộng đồng kiều bào.Trí tuệ kiều bào không chỉ nằm ở nguồn tiền mà còn ở năng lực quản trị, kinh nghiệm kết nối thị trường và mạng lưới công nghệ toàn cầu.

Thay vì chỉ "trải thảm đỏ" hình thức, Nhà nước cần tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi các nhà khoa học và chuyên gia được cung cấp đủ phương tiện và khả năng kết nối quốc tế.

Chỉ khi xây dựng được một hệ sinh thái cộng sinh thực chất, nơi mọi nguồn lực đều được trân trọng và đặt đúng chỗ, Việt Nam mới có thể biến những khát vọng hùng cường thành động lực tăng trưởng thực chất cho tương lai.

Quỳnh Chi

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/chong-lang-phi--bai-7-di-tim-hieu-qua-thuc-trong-dong-von-sieu-du-an-d45016.html