'Chốt' mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới
Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát trong giai đoạn 2026-2030.
Ngày 24-4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 với 494/494 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành.

Quốc hội làm việc sáng 24-4, biểu quyết thông qua các luật, nghị quyết quan trọng. Ảnh: Phạm Thắng
Quốc hội quyết nghị mục tiêu tổng quát là phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.
Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam.
Đồng thời, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
Nghị quyết cũng nêu rõ, các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cả nước đạt từ 10%/năm trở lên.
Quốc hội cũng đã quyết nghị các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chính để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nêu trên:
Thứ nhất, tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng.
Hoàn thiện thể chế, pháp luật để định hình mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế; chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với tiêu chuẩn, quy chuẩn và giám sát hiệu quả. Rà soát, điều chỉnh kịp thời các định mức kinh tế - kỹ thuật; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo.

Một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2031.
Tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát. Sửa đổi pháp luật liên quan đầu tư, đất đai, quy hoạch…; cải cách thủ tục hành chính, số hóa quy trình, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường kinh doanh thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN vào 2028.
Đổi mới tổ chức thực thi, siết kỷ luật, phòng chống tham nhũng, lãng phí; thay thế cán bộ yếu kém, khuyến khích người dám nghĩ, dám làm; nâng cao chất lượng đội ngũ công chức.
Thứ hai, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới
Chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cơ cấu lại các ngành, phát triển công nghiệp nền tảng, nông nghiệp giá trị cao, dịch vụ hiện đại; thúc đẩy kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu.
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn quốc tế; đẩy mạnh cổ phần hóa. Phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa; thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên chuyển giao công nghệ. Phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng; mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng FTA, tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; đa dạng hóa chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn
Phối hợp linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ để đạt tăng trưởng cao đi đôi ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát; nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa rủi ro. Phát triển thị trường vốn, nâng hạng chứng khoán; xây dựng trung tâm tài chính, thu hút dòng vốn quốc tế; đa dạng hóa nhà đầu tư, sản phẩm tài chính.
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém; tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ tư, tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ rào cản cho khoa học, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao. Phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn; thu hút, trọng dụng nhân lực chất lượng cao.
Ưu tiên làm chủ công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược; thúc đẩy chuyển đổi số toàn xã hội, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tài sản số.
Thứ năm, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Phát triển văn hóa đồng bộ, hiện đại; phát huy hệ giá trị gia đình, con người Việt Nam. Đẩy mạnh công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo; gắn văn hóa với du lịch, thương mại. Hoàn thiện thiết chế văn hóa; nâng cao đời sống văn hóa, thu hẹp chênh lệch vùng miền; xây dựng hệ sinh thái văn hóa mang bản sắc Việt.
Thứ sáu, hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài
Đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên đào tạo kỹ năng số, công nghệ. Tăng cường liên kết doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Nâng cao năng lực ngoại ngữ, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; hiện đại hóa giáo dục đại học, thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng AI.
Thứ bảy, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa và phát triển đô thị, liên kết vùng
Đầu tư các công trình hạ tầng trọng điểm: Cao tốc, cảng biển, hàng không, đường sắt tốc độ cao; phát triển hạ tầng năng lượng, thủy lợi, hạ tầng số. Hình thành các cực tăng trưởng, đô thị hiện đại, thông minh; tăng cường liên kết vùng, khai thác hiệu quả không gian phát triển. Rà soát, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng.
Thứ tám, qủan lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân
Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa tầng; phát triển thị trường lao động hiện đại; tạo việc làm, nâng cao thu nhập. Phát triển y tế chất lượng cao, tăng cường y tế cơ sở; chăm lo người có công, người yếu thế. Triển khai hiệu quả các chương trình giảm nghèo, phát triển vùng khó khăn.
Thứ chín, quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu
Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên, môi trường; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên. Phát triển kinh tế xanh, kinh tế rừng, công nghiệp môi trường. Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu; xử lý ô nhiễm tại đô thị lớn; bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học, tài nguyên biển.
Thứ mười, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa
Bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia; giữ ổn định chính trị, trật tự xã hội. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế. Triển khai đối ngoại toàn diện, chủ động hội nhập quốc tế; bảo đảm lợi ích quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Mười một, thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số"; chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội.
Xác định mục tiêu tăng trưởng "2 con số" là nhiệm vụ trọng tâm; cụ thể hóa thành kế hoạch, gắn trách nhiệm người đứng đầu, đánh giá theo kết quả. Đẩy mạnh tuyên truyền, tạo niềm tin, khát vọng phát triển; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí trong củng cố đồng thuận xã hội.











