Chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, trách nhiệm với lịch sử từ hôm nay
Không chỉ giữ gìn quá khứ, chúng ta còn cần phải hình thành năng lực nhận diện và chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, để thế hệ mai sau hiểu và tự hào về những gì cha ông ta đã làm cho đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo trong buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng ngày 19-8-2026
Hoàn thiện thiết chế, làm giàu bộ sưu tập quốc gia
Nhờ bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, Việt Nam sở hữu kho tàng di sản vô cùng đồ sộ, phong phú và đa dạng, trải dài từ di sản vật thể, phi vật thể đến di sản thiên nhiên và tư liệu được thế giới công nhận. Kho di sản giàu có này không những tạo nên sự đa dạng, phong phú và bản sắc của lịch sử và văn hóa của dân tộc, mà còn là nhân tố, nguồn lực quý giá để phát triển và nâng cao vị thế đất nước.
Hiện nay, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê. Trong đó, có 37 di sản được UNESCO ghi danh, gồm 9 Di sản thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu; 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, gần 12.000 di tích cấp tỉnh, thành phố, 735 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể; 357 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.
Cả nước đã có hơn 20.000 di vật, cổ vật được đăng ký theo quy định của Luật Di sản văn hóa, 177 bảo tàng, lưu giữ và trưng bày trên 4 triệu tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập, hiện vật đặc biệt quý hiếm.
Tuy nhiên, di sản không tự nhiên xuất hiện. Nó là kết quả của ý thức, nghĩa vụ và hành động tự giác của mỗi cá nhân, tổ chức trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản. Bảo tồn di sản đóng vai trò cốt lõi trong việc lưu giữ ký ức lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước, kết nối các thế hệ và phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch, giúp quốc gia giữ vững bản sắc riêng khi hội nhập quốc tế.
Phát biểu trong buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ, bảo tồn và bảo tàng không chỉ là giữ lại những công trình, hiện vật quý hay di tích lịch sử. Sâu xa hơn, đây là công việc giữ gìn lịch sử, tích lũy tri thức, truyền lại cho các thế hệ mai sau để hiểu mình là ai, từ đâu đến, đã trải qua những gì và dựa trên những nền tảng nào để đi đến tương lai.
Để gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản, một trong những yếu tố quan trọng là phải nâng cao hiệu quả hệ thống bảo tàng và các dự án thiết chế văn hóa lớn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo cần tổ chức rà soát hệ thống bảo tàng và các dự án thiết chế văn hóa lớn.
Việc rà soát cần bao gồm tình trạng các di tích, mức độ xuống cấp của những thiết chế đang vận hành và thứ tự ưu tiên đầu tư, tránh sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá, kéo dài, đầu tư nhiều lần nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được tận gốc vấn đề. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống thiết chế, phải chủ động làm giàu các bộ sưu tập quốc gia; trong đó nghiên cứu cơ chế và tổ chức các hoạt động để đưa những cổ vật, hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang lưu giữ ở nước ngoài trở về với đất nước.
Mỗi hiện vật hồi hương không chỉ là tài sản văn hóa được đưa trở lại mà còn góp phần hoàn thiện câu chuyện lịch sử và làm giàu ký ức của quốc gia. Tiếp đó là khắc phục những khoảng trống trong việc lưu giữ lịch sử Việt Nam từ khi đất nước giành được độc lập đến nay, nhất là lịch sử của quá trình kiến thiết, phát triển và biến đổi xã hội. Muốn vậy, phải rà soát một cách có hệ thống những khoảng trống trong các nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và đương đại.
Nhận diện và kiến tạo di sản tương lai
Đi liền với việc lưu giữ, bảo tồn, điều không kém phần quan trọng là phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản của tương lai ngay từ khi những giá trị ấy bắt đầu được hình thành. Khái niệm bảo tồn không chỉ bó hẹp từ việc thiên về gìn giữ quá khứ mà cần mở rộng sang nhiệm vụ mang tính kiến tạo tương lai. Mỗi thế hệ không chỉ là người tiếp nhận di sản, mà còn phải có trách nhiệm quyết định hôm nay điều gì cần được lưu giữ để ngày mai trở thành ký ức của quốc gia.

Khách quốc tế tham quan đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình
Thực tế trong cuộc sống cho thấy nhiều khi những gì gần gũi nhất lại thường dễ biến mất nhất. Những cuốn sổ tem phiếu, căn nhà tập thể, chiếc máy chữ, tấm vé tàu, cửa hàng mậu dịch hay những kiểu biển hiệu từng rất quen thuộc, khi còn hiện diện hàng ngày, ít ai nghĩ chúng là một phần của lịch sử. Chỉ đến khi chúng biến mất, chúng ta mới nhận ra một lát cắt của ký ức xã hội cũng mất theo. Bởi vậy, việc nhận diện “tiềm năng di sản”, thậm chí lập “hồ sơ ký ức” cho những công trình, sản phẩm có giá trị đặc biệt ngay từ khi bắt đầu hình thành là điều rất quan trọng.
Chính vì thế, trong buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản của tương lai ngay từ khi những giá trị ấy bắt đầu được hình thành. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là bảo vệ những gì cha ông để lại, mà còn phải suy nghĩ nghiêm túc xem chúng ta sẽ để lại điều gì cho hàng trăm, hàng nghìn năm và mãi mãi về sau.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, một công trình muốn có khả năng trở thành di sản hàng thế kỷ thì ngay từ ngày đầu tiên phải tạo điều kiện để công trình ấy có thể sống được hàng thế kỷ, đồng thời lưu giữ được câu chuyện, ký ức và những giá trị làm nên ý nghĩa của công trình.
Gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chính là bước chuyển trong tư duy về lịch sử dân tộc, không chỉ bảo tồn những gì đã có, mà phải chủ động kiến tạo ký ức quốc gia. Tất nhiên, kiến tạo ký ức quốc gia không có nghĩa là tùy ý lựa chọn bất cứ thứ gì để phong thành di sản. Ngược lại, nó đòi hỏi tiêu chí khoa học, sự nhạy cảm văn hóa và sự tham gia của giới chuyên môn, cộng đồng, các chủ thể trực tiếp tạo nên giá trị.
Không phải cái gì cũ cũng là di sản, cũng như không phải công trình lớn nào cũng mặc nhiên trở thành biểu tượng. Điều cần nhận diện là ý nghĩa lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, công nghệ, tính đại diện cho một giai đoạn và khả năng kể câu chuyện về xã hội.
Chúng ta đã biết đến những cuộc kháng chiến, những chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử. Nhưng lịch sử còn có những câu chuyện đất nước thời bước ra khỏi chiến tranh, từng bước kiến thiết, đổi mới và thay đổi diện mạo. Đó là công cuộc Đổi mới năm 1986 - một bước ngoặt có ý nghĩa đặc biệt, mở ra quá trình đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, tạo nền tảng để đất nước có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Còn hiện nay, chúng ta đang chứng kiến đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hàng loạt quyết sách chiến lược liên quan đến sắp xếp lại đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo… đã trở thành những dấu mốc của lịch sử Việt Nam đương đại.
Nếu ngay từ hôm nay, những giá trị đó được lưu giữ bằng số hóa hình ảnh, tư liệu, lời kể nhân chứng; nếu những biến đổi của đất nước được ghi lại và sau này có thể chuyển hóa thành nhiều sản phẩm mà thế hệ sau có thể tiếp cận thì chúng ta đã nhận diện và kiến tạo di sản tương lai ngay từ khi những giá trị đó bắt đầu hình thành. Đó chính là cách gìn giữ truyền thống, bồi đắp niềm tự hào về lịch sử của dân tộc.
