Chữ và nghĩa: Thú vị những từ trái nghĩa với 'đặc'
Với người Việt Nam khi ăn, còn lựa chọn: 'Khôn ăn cái, dại ăn nước' thì 'cái' lại là vật đặc, ngon nhất trong thức ăn nước. Nước thì bao giờ cũng loãng/lỏng, ngoại trừ lúc đông cứng do làm lạnh.
"Dốt đặc hơn chữ lỏng" là ngụ ý chẳng thà (ai đó) "dốt đặc cán mai" còn hơn chỉ mới i tờ, lõm bõm nhưng cứ lên mặt ta đây "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý" mà chẳng ra đâu vào đâu.
Dù lỏng/loãng đồng nghĩa tùy phương ngữ, vùng miền nhưng "Lạt mềm buộc chặt" thì "chặt" trái nghĩa với lỏng, chứ không thể dùng "loãng".
"Loãng" thường cặp kè với "đặc". Một người vừa thưởng thức chén trà, nhận xét: "Trà móc câu à? Đặc quá". Chén trà đặc ấy, với nước pha lần đầu đậm đặc, còn gọi là nước cốt. Đậm có nhiều sắc thái như đặc sệt, đặc quánh, đặc xít...

Tranh minh họa
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thọ, loại trà đặc này ở Phú Thọ còn có "trà tôm nõn", "trà 1 cá 2 vảy". Ông kể: "Hồi đó, trong tiểu đội tôi có một bạn quê Phú Thọ, đất trồng chè nổi tiếng ở miền Bắc. Nó bảo, để làm chè khô, người ta hái búp chè non rồi đem sao trong chảo trên bếp than. Búp chè có 2 loại: "1 tôm 2 lá" là búp có 2 lá non bên dưới, phía trên lá vẫn cuộn lại như hình con tôm; loại "1 cá 2 vảy" là loại búp còn non hơn. Hai cái lá bên dưới chưa xòe ra, chỉ mới như cái vảy cá, phần nõn bên trên cũng còn rất nhỏ, chỉ như hình một chú cá tí xíu. "Trà tôm nõn" hẳn là loại "1 tôm 2 lá".
Cũng nhúm trà ấy, càng về sau, nếu cứ châm thêm nước sôi vào, trà càng nhạt, gọi là nước dão - "thường nói về nước chè đã lợt rồi, hết mùi chè" - theo "Đại Nam quấc âm tự vị" (1895).
Có điều lạ, từ điển ngoài Bắc như Việt Nam tự điển (1931), Từ điển tiếng Việt (1977) không ghi nhận từ dão. Thậm chí "ại từ điển tiếng Việt" (1999) xếp dão chung với dạo - theo nghĩa dạo/dạo mát/đi dạo. Mà dạo cũng là rảo, chẳng hạn một cậu học trò kể: "Cơm nước xong, trời mát, tía tôi dẫn tôi rảo một vòng quanh xóm". Từ điển từ ngữ Nam Bộ, Huỳnh Công Tín có nêu thí dụ về nghĩa thứ 2 của dão: "Nói mà không chịu dão tai ra mà nghe, rồi có khi làm lại làm bậy".
Thế thì, trong ngữ cảnh này, từ dão lại hàm nghĩa dỏng/dóng, chẳng hạn người bực bội: "Tớ nói lần chót nè, cậu dóng tai mà nghe cho rõ".
Không chỉ đặc trái nghĩa với loãng mà tùy ngữ cảnh còn có thể là rỗng. Sau khi trò chuyện, gặp gỡ, một người nhận xét: "Ối dào, tay đó dốt đặc cán mai", tức rất dốt. Cán mai thường được làm bằng loại cây đặc ruột, hoàn toàn không gì có thể chen/chêm/nêm vào trong được nữa. Trái ngược với sự đặc ruột đó lại là rỗng. "Kìa ai lào lạo ngoài da/ Mà trong rỗng tuếch như hoa muống rừng". Rỗng, rỗng tuếch, rỗng toác, rỗng không, rỗng hoác là không có phần lõi, không có gì bên trong. Dù thế, có kẻ lại "Thùng rỗng kêu to", nói nhiều nhưng chẳng có thực lực, khoác lác chẳng khác gì "Ba voi không được bát nước xáo".
Mà rỗng cũng đồng nghĩa với bộng. "Chà, hắn ta nói nhiều nhưng bộng ruột", câu này ngụ ý dù nói huyên thuyên nhưng trong bụng chẳng có chữ nghĩa gì; nhưng cũng hàm nghĩa bụng đói, chẳng có gì bỏ vào bụng.











