Chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng kiến trúc an ninh mạng quốc gia đồng bộ

Việc xây dựng Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia nhằm cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung trong Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, tạo cơ sở triển khai thống nhất.

Người dân các địa phương ở An Giang đến trung tâm hành chính công làm thủ tục làm sạch dữ liệu đất đai. (Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN)

Người dân các địa phương ở An Giang đến trung tâm hành chính công làm thủ tục làm sạch dữ liệu đất đai. (Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN)

Quyết định số 1425/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, phiên bản 1.0, giao Bộ Công an chủ trì xây dựng, cập nhật Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và xây dựng Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia, bảo đảm đồng bộ với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết theo quyết định, trong vòng 6 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành, tức là từ nay đến ngày 29/1/2027, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải hoàn thành việc xây dựng mới hoặc rà soát, cập nhật và ban hành Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức mình. Việc rà soát phải xác định lộ trình xử lý hạ tầng số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số chưa phù hợp hoặc trùng lặp, bảo đảm kế thừa kết quả đầu tư và tránh lãng phí nguồn lực.

Đối với các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp, hợp nhất đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra là ưu tiên hợp nhất, tích hợp, kế thừa hệ thống hiện có; chỉ đầu tư mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu.

Hoàn thiện khung dữ liệu, thống nhất quản trị

Theo Bộ Công an, đến nay, cơ bản các bộ, ngành, địa phương đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu. Việc xây dựng các khung này tại từng cơ quan, địa phương là một phần trong quá trình triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.

Triển khai xây dựng Khung kiến trúc chính quyền số tỉnh (phiên bản 1.0), Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang cho biết Khung kiến trúc mới được xây dựng trên cơ sở kế thừa và cập nhật Khung kiến trúc chính quyền số tỉnh phiên bản 4.0, bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia và các quy định, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Trong tháng 11/2026, tỉnh dự kiến khảo sát hiện trạng hạ tầng số, mạng truyền số liệu, trung tâm dữ liệu, cơ sở dữ liệu, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu và các hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công. Nội dung khảo sát cũng bao gồm các kênh tương tác với người dân, doanh nghiệp và hệ thống bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.

Kiến trúc mục tiêu được xây dựng theo bốn lớp, gồm hạ tầng số và an ninh mạng dùng chung; dữ liệu và nền tảng lõi; ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; kênh tương tác và đo lường hiệu quả. Đối với cấp xã, Khung kiến trúc xác định các nền tảng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số có thể sử dụng chung giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời làm rõ trách nhiệm quản lý, khai thác, vận hành. Nội dung kiến trúc dữ liệu phải đồng bộ với các khung dữ liệu, quản trị và quản lý dữ liệu của tỉnh, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu.

Trong hệ thống các cơ quan đảng, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành quyết định về Khung kiến trúc số phiên bản 1.0 nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong các cơ quan đảng; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan đảng. Qua đó, đổi mới thực chất phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chuyển từ số hóa công việc sang lãnh đạo, chỉ đạo, dự báo, ra quyết định và kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu.

Khung kiến trúc được xây dựng cho hệ thống cơ quan đảng có phạm vi hoạt động đa dạng, từ các cơ quan tham mưu, giúp việc Trung ương, các đảng ủy trực thuộc Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy đến đảng ủy xã, phường, đặc khu và các cơ quan báo chí, đào tạo, nghiên cứu của Đảng. Khung kiến trúc này được tổ chức theo cấu trúc 4 lớp, bảo đảm tương thích với khung quốc gia, phân biệt các thành phần dùng chung cấp quốc gia, thành phần dùng chung trong các cơ quan đảng và thành phần chuyên ngành, đặc thù của từng cơ quan, địa phương.

Qua thực tiễn xây dựng Khung kiến trúc số trong các cơ quan đảng, ông Phạm Thế Bính, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Trung ương Đảng, cho biết hình vẽ kiến trúc phải đi sau logic quản trị. Trước khi xây dựng sơ đồ, cần xác định ranh giới các lớp, chủ thể quản trị, phạm vi dùng chung, dòng dữ liệu, quan hệ tích hợp và trách nhiệm đầu tư. Các thành phần dữ liệu, nền tảng, ứng dụng và kênh tương tác phải được phân định rõ, bảo đảm sơ đồ kiến trúc thể hiện được mối quan hệ giữa các thành phần.

Theo ông Bính, kiến trúc phải xử lý được quan hệ giữa dùng chung và đặc thù. Mỗi thành phần đặc thù cần làm rõ lý do tồn tại, quan hệ với thành phần dùng chung, dữ liệu phải chia sẻ và lộ trình hội tụ. Kiến trúc phải là một thực thể sống. Các nền tảng, ứng dụng, cơ sở dữ liệu và dịch vụ dùng chung cần được quản lý theo trạng thái phát triển, từ định hướng, thí điểm, vận hành mở rộng có điều kiện, vận hành ổn định, dùng chung chính thức đến thay thế, hợp nhất hoặc dừng.

Bên cạnh kết quả triển khai, Bộ Công an cho biết tiến độ xây dựng Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương chưa đồng đều, chưa bảo đảm tính đồng bộ về trình tự và thời điểm ban hành. Có cơ quan triển khai sớm, có cơ quan còn chậm, gây khó khăn cho việc rà soát, đối chiếu và bảo đảm thống nhất giữa kiến trúc dữ liệu, mô hình quản trị và Từ điển dữ liệu, nhất là đối với dữ liệu liên ngành, dữ liệu dùng chung.

Bộ Công an cũng nêu tình trạng tại một số cơ quan, vai trò, trách nhiệm của cơ quan chủ quản dữ liệu, chủ quản cơ sở dữ liệu, đơn vị quản lý, đơn vị vận hành và đơn vị khai thác, sử dụng dữ liệu chưa được xác định rõ. Trách nhiệm đối với chất lượng, tính chính xác, tính cập nhật, khả năng chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu chưa gắn đầy đủ với từng chủ thể. Tình trạng này tiềm ẩn nguy cơ các cơ quan hình thành cấu trúc, tiêu chuẩn và cách diễn giải dữ liệu riêng trước khi có sự thống nhất tổng thể.

(Ảnh minh họa. Phạm Cường/TTXVN)

(Ảnh minh họa. Phạm Cường/TTXVN)

Xây dựng kiến trúc an ninh mạng thống nhất

Trong quá trình chuyển đổi số, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng số ngày càng trở thành hạ tầng quan trọng phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và cung cấp dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp. Cùng với đó, nguy cơ tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu, gián đoạn hoạt động của hệ thống và lộ lọt thông tin cá nhân cũng gia tăng.

Thực tế này đòi hỏi công tác bảo đảm an ninh mạng phải chuyển từ bảo vệ từng hệ thống riêng lẻ sang mô hình phòng thủ có tính kết nối, chia sẻ thông tin và phối hợp đồng bộ. Việc xây dựng Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia nhằm cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung trong Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, tạo cơ sở triển khai thống nhất, đồng thời hạn chế tình trạng đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí nguồn lực.

Cuối tháng 9/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ban hành Quyết định số 1875/QĐ-TTg về Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia, phiên bản 1.0. Khung kiến trúc là cơ sở để các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng, triển khai các thành phần công nghệ, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất về kiến trúc an ninh mạng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin của từng cấp, từng ngành.

Kiến trúc an ninh mạng quốc gia được thiết kế trên tư duy phòng thủ chủ động, tích hợp đồng bộ với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Hệ thống được cấu trúc thành 4 lớp chức năng dùng chung trong toàn hệ thống chính trị, có liên kết chặt chẽ, hình thành hệ sinh thái an ninh mạng toàn diện, gồm: hạ tầng an ninh mạng; dữ liệu chia sẻ; nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng và kênh tương tác và đo lường. Trong đó, lớp hạ tầng an ninh mạng dùng chung đóng vai trò là “lá chắn số” trực tiếp bảo vệ các cổng thông tin điện tử, dịch vụ công trực tuyến và các ứng dụng trọng yếu của Chính phủ, các bộ, ngành. Vai trò chiến lược của hạ tầng này là bảo đảm “mặt tiền” của quốc gia trên không gian mạng luôn sạch, ngăn chặn các hành vi phá hoại làm thay đổi giao diện hoặc đánh cắp dữ liệu công dân, giữ gìn uy tín và hình ảnh của cơ quan nhà nước.

Khung kiến trúc yêu cầu việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng tuân thủ quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu bảo vệ theo cấp độ hệ thống thông tin. Khi triển khai, các cơ quan, đơn vị rà soát hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, hạ tầng mạng và các giải pháp bảo vệ đang vận hành; xác định những nội dung chưa đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát để cập nhật kiến trúc phù hợp. Việc thực hiện cũng gắn với phân định trách nhiệm quản lý, vận hành và hoàn thiện quy trình phối hợp xử lý sự cố./.

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/chuan-hoa-du-lieu-xay-dung-kien-truc-an-ninh-mang-quoc-gia-dong-bo-post1144514.vnp