Chuẩn hóa vùng chè nguyên liệu

Phú Thọ có diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm từ cây chè nằm trong top đầu của cả nước. Khi thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm, việc tổ chức lại vùng chè nguyên liệu theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, gắn với chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu cấp thiết.

Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đạt chuẩn giúp HTX chè Cẩm Mỹ, xã Cự Đồng nâng giá trị cây chè và tăng thu nhập cho thành viên HTX.

Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đạt chuẩn giúp HTX chè Cẩm Mỹ, xã Cự Đồng nâng giá trị cây chè và tăng thu nhập cho thành viên HTX.

Đến nay, toàn tỉnh có 14,5 nghìn ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt trên 193 nghìn tấn (đứng thứ 3 toàn quốc). Diện tích chè phân bố trên địa bàn 58 xã, phường, trong đó 28 xã có diện tích chè trên 100ha với tổng diện tích trên 13.000ha (4 xã có diện tích trên 1 nghìn ha gồm: Minh Đài, Long Cốc, Yên Kỳ, Tây Cốc), tạo thành vùng trồng tập trung thuận lợi cho việc ứng dụng cơ giới trong sản xuất.

Trên địa bàn tỉnh có 76 doanh nghiệp tham gia sản xuất, chế biến chè, với sản lượng chế biến bình quân trên 60 nghìn tấn/năm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu. Khoảng trên 20% doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ chế biến chè xanh và các sản phẩm chế biến sâu từ chè xanh như chè túi lọc, matcha, nước uống đóng chai,... gồm Công ty chè Phú Đa (Xí nghiệp chè Phú Long), Công ty TNHH chè SSOE, Công ty chè Cozy... Một số công ty định hướng phát triển sản phẩm chè đặc sản, đặc trưng như chè búp tím Thanh Ba của Công ty TNHH đầu tư và phát triển Trà UT, chè Shan tuyết Pà Cò của Công ty TNHH MTV Phương Huyền...

Những con số này khẳng định chè là ngành hàng chủ lực, lợi thế nổi trội của địa phương. Tuy nhiên, lợi thế chưa chuyển hóa đầy đủ thành sức cạnh tranh. Sản xuất nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, quy mô nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa nông dân, các hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; chất lượng nguyên liệu giữa các vùng, thậm chí trong cùng một vùng còn chênh lệch. Trong khi đó, thị trường yêu cầu sản phẩm đồng đều, an toàn, quy trình minh bạch và truy xuất được nguồn gốc.

Là một trong những HTX sớm xây dựng vùng nguyên liệu chuẩn, áp dụng các biện pháp canh tác hữu cơ, VietGAP ngay từ ngày mới thành lập, hiện nay, HTX chè Cẩm Mỹ, xã Cự Đồng có hơn 30ha đã được công nhận đạt chuẩn hữu cơ, trong đó gần 20ha đạt chuẩn VietGAP. Chị Nguyễn Thị Cẩm Mỹ - Phó Giám đốc HTX chia sẻ: Khi bắt tay vào thành lập HTX, chúng tôi kiên định nguyên tắc sản xuất phải đạt các tiêu chuẩn để có thể xuất khẩu. Chính vì thế, việc xây dựng vùng nguyên liệu tập trung bắt buộc phải được chuẩn hóa, được cấp chỉ dẫn địa lý, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc đáp ứng được hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu. Không chỉ vùng chè nguyên liệu của HTX, đối với các hộ dân chúng tôi ký kết hợp đồng liên kết cũng được yêu cầu phải sản xuất theo đúng các tiêu chuẩn của HTX. Nhờ đó, HTX đã có 2 sản phẩm được công nhận đạt hạng OCOP 4 sao. Đồng thời HTX tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích liên kết với các hộ trồng chè trong và ngoài xã, đầu tư trang thiết bị chế biến hướng tới mục tiêu đưa sản phẩm đạt hạng OCOP 5 sao.

Vùng nguyên liệu không đơn thuần là khu vực có diện tích chè lớn, mà phải được quy hoạch, quản lý và vận hành theo cùng một hệ tiêu chuẩn. Từ giống, vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, thu hái, sơ chế đến kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc đều cần được tổ chức thống nhất. Vì vậy, các hộ trồng chè nên tham gia các hình thức liên kết như HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX và chuỗi liên kết với doanh nghiệp. HTX giữ vai trò đầu mối tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát quy trình, tập hợp sản lượng và kết nối thị trường. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, đặt ra yêu cầu chất lượng và gắn sản xuất với nhu cầu chế biến, tiêu thụ.

Ông Nguyễn Trường Giang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhận định: Khi vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp và HTX có điều kiện đầu tư nhà máy chế biến tại các vùng chè tập trung, phát triển sản phẩm chế biến sâu, mở rộng phân khúc giá trị cao. Quá trình sản xuất được quản lý theo tiêu chuẩn thống nhất, vai trò điều phối của các tổ chức được nâng lên, người trồng chè gắn bó hơn với quy trình an toàn, với hợp đồng liên kết và thị trường dài hạn. Khi có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu số, sản phẩm chè đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.

Tổ chức lại vùng nguyên liệu là điểm khởi đầu của toàn bộ chuỗi giá trị cho sản phẩm chè Đất Tổ. Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch hợp lý, tổ chức chặt chẽ, liên kết hiệu quả giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp, áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, được số hóa và truy xuất minh bạch, ngành chè của tỉnh sẽ tiếp tục củng cố vị thế, đồng thời mở ra dư địa lớn cho tăng trưởng giá trị và phát triển bền vững.

Quân Lâm

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/chuan-hoa-vung-che-nguyen-lieu-255330.htm