Chuỗi liên kết 'xanh' mở đường cho thương hiệu gạo Việt
Liên kết chuỗi trong sản xuất lúa gạo không chỉ nhằm mục tiêu tiêu thụ sản phẩm mà còn gắn chặt với chiến lược tăng trưởng xanh.

Sản phẩm gạo xuất khẩu của Công ty TNHH gạo Vinh Phát (An Giang). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Khi hạt lúa được sản xuất theo hướng giảm phát thải, thân thiện với môi trường, giá trị không chỉ dừng lại ở năng suất hay lợi nhuận mà còn mở rộng sang yếu tố “xanh”, “sạch”, phù hợp với xu hướng tiêu dùng bền vững. Đây cũng được xem là nền tảng quan trọng để nâng tầm thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Sau hơn hai năm triển khai giai đoạn 1, Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đã ghi nhận những kết quả tích cực. Diện tích canh tác đạt 354.839 ha, tương đương 197% so với mục tiêu đề ra ban đầu là 180.000 ha.
Không chỉ mở rộng về quy mô, hiệu quả sản xuất cũng được cải thiện rõ rệt. Tại các vùng tham gia đề án, 100% diện tích sử dụng giống chất lượng cao; lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%; phân bón giảm khoảng 30%; thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2–3 lần phun mỗi vụ; lượng nước tưới giảm khoảng 20% nhờ áp dụng kỹ thuật tưới tiên tiến.
Nhờ đó, năng suất lúa tăng khoảng 12%, chi phí đầu vào giảm gần 40%, lợi nhuận bình quân tăng thêm khoảng 6 triệu đồng/ha/vụ. Đặc biệt, lượng phát thải khí nhà kính giảm khoảng 3–4 tấn CO₂/ha/vụ – một con số có ý nghĩa lớn trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang hướng tới mục tiêu giảm phát thải.
Điểm đáng chú ý là sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức sản xuất. Sau hai năm triển khai, đã có 1.129 hợp tác xã, tổ hợp tác và hơn 210 doanh nghiệp tham gia đề án; trong đó khoảng 600 hợp tác xã thực hiện liên kết sản xuất – tiêu thụ với doanh nghiệp, chiếm 60–70% diện tích.
Điển hình, Hợp tác xã Gò Gòn (Tây Ninh) liên kết với các hợp tác xã lân cận xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 300 ha mỗi đơn vị; Công ty Rice Việt Nam – Hợp tác xã Vĩnh Cường xây dựng vùng nguyên liệu gần 13.000 ha; Công ty Trung An liên kết với các hợp tác xã trong vùng để sản xuất lúa phục vụ xuất khẩu. Các mô hình này cho thấy khi doanh nghiệp và hợp tác xã phối hợp chặt chẽ, chuỗi giá trị lúa gạo có thể vận hành hiệu quả hơn và tạo động lực chuyển đổi sang sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Lần đầu tiên, sản xuất lúa gạo được tổ chức trên quy mô lớn theo chuỗi giá trị, đảm bảo các nguyên tắc liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ.

Nông dân điểu khiển bơm tát nước qua app điện thoại thông minh. Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN
Không chỉ dừng ở sản xuất, bước đầu ngành lúa gạo đã chú trọng xây dựng thương hiệu gắn với yếu tố “xanh”. Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam đã phát triển nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, với hơn 18.000 ha được cấp nhãn, tương ứng khoảng 75.000 tấn gạo. Đáng chú ý, 500 tấn gạo mang nhãn hiệu này đã lần đầu tiên được xuất khẩu sang Nhật Bản – thị trường có yêu cầu khắt khe về chất lượng và môi trường.
Tại các địa phương, mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang được triển khai ngày càng bài bản. An Giang – một trong những địa phương tiên phong – hiện có 690 hợp tác xã nông nghiệp với hơn 43.000 thành viên. Diện tích liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, nếp đạt hàng trăm nghìn héc-ta; trong đó gần 7.000 ha tham gia trực tiếp đề án, với sự đồng hành của nhiều doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Lộc Trời, Angimex, Tân Long.
Mới đây, Công ty TNHH Tập đoàn Nông nghiệp sạch hữu cơ Toàn Cầu đã ký kết hỗ trợ các hợp tác xã tham gia đề án, cung cấp vật tư đầu vào theo hướng hữu cơ, hỗ trợ kỹ thuật xuyên suốt từ đầu vụ đến thu hoạch. Mô hình này giúp nông dân giảm chi phí ban đầu, đồng thời tiếp cận quy trình sản xuất bền vững.
Theo ông Trần Văn Lô Ba, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Phú Thạnh (An Giang), việc liên kết với doanh nghiệp giúp hợp tác xã chủ động kế hoạch sản xuất theo đơn đặt hàng, giá cả được thỏa thuận từ đầu vụ. Thành viên được mua vật tư với giá ưu đãi và bán lúa theo hợp đồng, qua đó hạn chế rủi ro thị trường. Lợi nhuận bình quân tăng từ 10–15% so với sản xuất riêng lẻ.
Không chỉ vậy, hợp tác xã còn tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để sản xuất phân hữu cơ, vừa tạo thêm nguồn thu, vừa giảm tình trạng đốt rơm – một trong những nguyên nhân gây phát thải lớn trong sản xuất nông nghiệp.
Bước sang giai đoạn 2 (2026-2030), Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục hoàn thiện hạ tầng và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất. Các địa phương cần đầu tư hệ thống thủy lợi nội đồng, phát triển mô hình tưới tiết kiệm nước, đồng thời nâng cấp kho chứa, logistics nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch.
Cùng với đó, địa phương cần củng cố vai trò trung tâm của hợp tác xã trong liên kết chuỗi, tăng cường giám sát thực hiện hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp, hạn chế tình trạng phá vỡ liên kết. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc cũng được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính minh bạch.

Thu hoạch lúa ở ấp Tân Long, xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Ảnh: Duy Khương/TTXVN
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng nhấn mạnh, những kết quả bước đầu của đề án không chỉ góp phần nâng cao giá trị ngành lúa gạo mà còn phù hợp với cam kết của Việt Nam tại COP26 về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đây cũng là nền tảng để xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam theo hướng “xanh – sạch – chất lượng – bền vững”.
Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tái định hình ngành hàng lúa gạo theo hướng hiện đại, có trách nhiệm với môi trường và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Trong giai đoạn 2026–2030, đề án sẽ tiếp tục mở rộng thêm, hướng tới mục tiêu hình thành 1 triệu ha vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Khi đó, không chỉ sản lượng, mà chính “giá trị xanh” sẽ trở thành yếu tố cốt lõi giúp gạo Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.












