Chuyển đổi số di sản văn hóa - Bài 1: Mở kho dữ liệu cho thời trang Việt
Trong chiến lược định hình TP Hồ Chí Minh trở thành trung tâm công nghiệp sáng tạo của khu vực, việc chuyển đổi số di sản văn hóa đóng vai trò như chiếc chìa khóa cốt lõi mở ra nguồn tài nguyên tri thức mới. Giữa dòng chảy đó, thời trang truyền thống - từ tà áo dài ngũ thân đến các dòng cổ phục đang đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi được công nghệ 'mã hóa' thành hệ dữ liệu mở, giúp di sản vừa giữ trọn bản sắc cổ truyền, vừa trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững.
Bài 1: Mở kho dữ liệu cho thời trang Việt
Giới thiết kế, điện ảnh và các ngành công nghiệp sáng tạo nhiều năm qua vẫn thiếu nguồn tư liệu chính thống để phục dựng trang phục truyền thống. Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh thúc đẩy chuyển đổi số văn hóa, việc chuyển từ "số hóa hiện vật" sang "số hóa tri thức" được kỳ vọng tạo nên nguồn dữ liệu mở, đưa di sản trở thành tài nguyên phục vụ sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa.

Trong nền kinh tế sáng tạo, dữ liệu ngày càng được xem là nguồn tài nguyên quan trọng.
Điểm nghẽn từ nguồn tư liệu phân tán
Trong nền kinh tế sáng tạo, dữ liệu ngày càng được xem là nguồn tài nguyên quan trọng, quyết định năng lực đổi mới và khả năng tạo giá trị gia tăng. Với lĩnh vực văn hóa, dữ liệu không chỉ phục vụ lưu giữ ký ức lịch sử mà còn là nền tảng để di sản được nghiên cứu, tái hiện và chuyển hóa thành sản phẩm phục vụ thời trang, điện ảnh, du lịch, giáo dục và nhiều ngành công nghiệp sáng tạo khác. Muốn biến di sản thành nguồn lực phát triển, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được một hệ thống dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa và có khả năng kết nối.
Tuy nhiên, đây cũng chính là điểm nghẽn mà ngành văn hóa và công nghiệp sáng tạo Việt Nam nhiều năm qua chưa thể tháo gỡ. Phần lớn tư liệu vẫn tồn tại dưới dạng hiện vật lưu trữ, hồ sơ giấy hoặc tri thức truyền nghề, phân tán ở các bảo tàng, cơ quan nghiên cứu và trong ký ức của nghệ nhân, khiến việc tiếp cận, khai thác và ứng dụng vào hoạt động sáng tạo còn nhiều hạn chế.
Thực trạng này thể hiện khá rõ tại TP Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nước. Thành phố hiện có 314 di tích được xếp hạng, 23 bảo vật quốc gia, 23 bảo tàng cùng 3 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú, song trong nhiều năm, việc bảo tồn vẫn chủ yếu theo mô hình truyền thống.
Phần lớn hiện vật sau khi sưu tầm được lưu giữ trong kho hoặc trưng bày tại bảo tàng để phục vụ nghiên cứu và tham quan. Cách làm này giúp gìn giữ giá trị nguyên gốc của di sản, nhưng cũng khiến nguồn tư liệu khó được khai thác sâu cho các hoạt động sáng tạo, vô hình trung tạo khoảng cách giữa di sản với đời sống đương đại.

Bưu điện TP Hồ Chí Minh là nguồn tài nguyên văn hóa cần được số hóa để lưu trữ.
Thực trạng này bộc lộ rõ trong lĩnh vực thời trang - nơi nhu cầu khai thác di sản để sáng tạo ngày càng lớn. Khi thực hiện các dự án phục dựng cổ phục, áo dài truyền thống hoặc phát triển bộ sưu tập mang bản sắc Việt Nam, nhiều nhà thiết kế trẻ, ê-kíp làm phim lịch sử và nghệ sĩ sáng tạo vẫn thiếu tư liệu chính thống.
Trong khi đó, tri thức về lịch sử trang phục, cấu trúc rập, kỹ thuật cắt may, chất liệu, màu sắc và quy chuẩn hoa văn chủ yếu được lưu truyền giữa các thế hệ nghệ nhân hoặc nằm rải rác trong các bộ sưu tập cá nhân, chưa được chuẩn hóa thành cơ sở dữ liệu để giới chuyên môn khai thác hiệu quả.
Hệ quả là nhiều nhà thiết kế phải tìm kiếm tư liệu từ bảo tàng, thư viện số ở nước ngoài hoặc các nguồn thông tin chưa được kiểm chứng. Việc thiếu dữ liệu gốc khiến không ít sản phẩm được giới thiệu là trang phục truyền thống nhưng vẫn sai lệch về tỷ lệ, kết cấu, màu sắc, họa tiết hoặc kỹ thuật thể hiện. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tính xác thực của giá trị lịch sử mà còn làm giảm sức thuyết phục và giá trị thương mại của sản phẩm khi đưa ra thị trường.
Chính từ những hạn chế đó, chuyển đổi số đang được xem là hướng đi quan trọng để thay đổi cách tiếp cận trong bảo tồn và khai thác di sản. Theo nhiều nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ, mục tiêu không chỉ là số hóa hiện vật để lưu trữ, mà còn xây dựng một hệ thống dữ liệu mở, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp sáng tạo phát triển.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ số cần trở thành chiến lược phát triển văn hóa, hướng tới chuyển dịch từ mô hình "bảo tồn tĩnh" sang "quản trị dữ liệu động". Theo đó, di sản không chỉ được lưu giữ trong bảo tàng mà còn phải được dữ liệu hóa, kết nối và đưa vào đời sống thông qua nghiên cứu, giáo dục, du lịch và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Số hóa tri thức không chỉ lưu hình ảnh
Nếu dữ liệu là nguyên liệu của nền kinh tế số thì với văn hóa, giá trị cốt lõi không nằm ở số lượng hiện vật được quét hay lưu trữ mà ở khả năng chuyển hóa tri thức gắn với di sản thành hệ dữ liệu có thể kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Đây là hướng tiếp cận được nhiều chuyên gia xem là cách để tháo gỡ khó khăn về tư liệu của giới sáng tạo, đồng thời tạo nền tảng đưa di sản tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.
Theo Tiến sĩ Mã Thanh Cao, nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, nhận thức về số hóa ở nhiều nơi hiện vẫn chưa đầy đủ, khi đồng nhất việc chụp ảnh, quét hiện vật 3D với công tác bảo tồn. Một hình ảnh độ phân giải cao hay mô hình số dù thực hiện công phu đến đâu cũng mới phản ánh phần vỏ của di sản; quan trọng hơn là lưu giữ được các lớp thông tin phía sau hiện vật như bối cảnh lịch sử, kỹ thuật chế tác, giá trị mỹ thuật và hệ tri thức hình thành nên di sản.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, cho rằng quá trình số hóa di sản trên thế giới đã chuyển từ xây dựng các cơ sở dữ liệu đơn lẻ sang hình thành hệ sinh thái dữ liệu có khả năng liên thông, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), thực tế ảo (VR) và nhiều công nghệ khác.

Những mẫu áo dài trong bộ sưu tập Trở về cố đô 5 - Sắc tím kinh kỳ.
Trong khi đó, tại Việt Nam, hoạt động số hóa vẫn chủ yếu dừng ở từng đơn vị riêng lẻ, thiếu tiêu chuẩn chung và chưa kết nối được với nhau. Giải pháp căn cơ, theo bà, không chỉ là đầu tư thiết bị hay phần mềm mà phải thay đổi tư duy quản lý dữ liệu, từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu mở để di sản kết nối trực tiếp với đời sống sáng tạo đương đại.
Từ thực tiễn nghiên cứu và phục dựng áo dài ngũ thân, nghệ nhân Phạm Văn Tuyền (Năm Tuyền), Chi hội trưởng Chi hội Di sản văn hóa áo dài TP Hồ Chí Minh, cho rằng dữ liệu là yếu tố quan trọng để kết nối di sản với các ngành công nghiệp sáng tạo.
"Giới thiết kế không chỉ cần nhìn thấy một chiếc áo mà cần hiểu vì sao chiếc áo được tạo ra như vậy, từ cấu trúc, kỹ thuật đến những giá trị văn hóa phía sau. Khi tri thức ấy được hệ thống hóa, di sản mới có thể tiếp tục được sáng tạo trong những hình thức mới", nghệ nhân Phạm Văn Tuyền chia sẻ.
Theo nghệ nhân Tuyền, dữ liệu văn hóa mở sẽ tạo điều kiện để các nhà thiết kế, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và cộng đồng sáng tạo tiếp cận nguồn tư liệu đáng tin cậy, từ đó phát triển những sản phẩm mới dựa trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Đây cũng là hướng đi giúp ngành thời trang và các lĩnh vực sáng tạo từng bước chuyển từ khai thác cảm hứng đơn thuần sang xây dựng sản phẩm dựa trên tri thức và giá trị bản địa.
Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh định hướng phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chuyển đổi số, việc xây dựng kho dữ liệu di sản không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn mà còn là bước chuẩn bị cho một hệ sinh thái sáng tạo mới. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác đúng cách, di sản có thể trở thành nguồn lực phát triển, tạo ra những giá trị mới trong đời sống kinh tế - xã hội.
Bài 2: Từ kỹ nghệ thủ công đến chuẩn hóa dữ liệu








![[Ảnh] Bản lĩnh 'thép' dưới cơn mưa: Mãn nhãn màn biểu dương lực lượng công an nhân dân](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_02_14_55745178/ff36e425ad6e44301d7f.jpg)



