Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Lê Quý Đôn: Di sản của một trí tuệ lớn và khát vọng phát triển

Ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Lê Quý Đôn cất tiếng khóc chào đời (2/8/1726 – 2/8/2026), nhưng tên tuổi của ông vẫn hiện diện như một biểu tượng đặc biệt trong lịch sử văn hóa dân tộc. Không chỉ là nhà bác học kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn là hiện thân của mẫu hình trí thức lấy học thuật để phụng sự quốc gia, lấy tri thức để kiến tạo văn hóa và lấy trách nhiệm với nhân dân làm lẽ sống.

Việc UNESCO thông qua Nghị quyết cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là sự tôn vinh dành cho một cá nhân xuất chúng, mà còn là sự ghi nhận đối với truyền thống hiếu học, tinh thần sáng tạo và chiều sâu văn hiến của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là dịp để nhìn lại giá trị trường tồn của di sản Lê Quý Đôn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển dựa trên tri thức, khoa học và văn hóa.

Tượng thờ Danh nhân văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn tại Từ đường dòng họ Lê, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: BTC Hội thảo cung cấp)

Từ nhà bác học bách khoa đến biểu tượng văn hóa của dân tộc

Trong lịch sử Việt Nam, hiếm có học giả nào sở hữu tầm vóc tri thức toàn diện như Lê Quý Đôn. Hơn 40 bộ sách trải rộng trên các lĩnh vực triết học, lịch sử, địa lý, kinh tế, giáo dục, văn học, nông nghiệp, thiên văn, y học... khiến ông trở thành hình mẫu tiêu biểu của một nhà bác học bách khoa thời phong kiến.

Điều đáng nói, giá trị lớn nhất trong sự nghiệp của Lê Quý Đôn không chỉ nằm ở số lượng trước tác hay sự uyên bác, mà ở phương pháp tiếp cận tri thức. Ông không sao chép kinh điển một cách giáo điều, mà luôn khảo sát thực tiễn, đối chiếu tư liệu, kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Trong bối cảnh tư duy khoa học còn chịu ảnh hưởng nặng nề của kinh viện, phương pháp nghiên cứu ấy cho thấy một tinh thần thực chứng rất gần với khoa học hiện đại.

Có lẽ vì thế mà nhiều công trình của ông đến nay vẫn giữ nguyên giá trị học thuật. Vân đài loại ngữ được xem như bộ bách khoa thư của Việt Nam thời phong kiến; Kiến văn tiểu lục lưu giữ những tư liệu quý về lịch sử và văn hóa; Phủ biên tạp lục không chỉ phản ánh đời sống kinh tế - xã hội Đàng Trong mà còn trở thành nguồn tư liệu quan trọng trong nghiên cứu về chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Khu tưởng niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn. (Ảnh: BTC Hội thảo cung cấp).

Tại Hội thảo khoa học quốc gia "Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn - Di sản và giá trị thời đại" tổ chức sáng 30/7/2026 tqaij Hưng Yên – quê hương ông, nhiều học giả tiếp tục khẳng định những ghi chép của ông là chứng cứ lịch sử và pháp lý quan trọng trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó cho thấy, tri thức chân chính không chỉ phục vụ học thuật mà còn có thể trở thành nền tảng bảo vệ lợi ích quốc gia nhiều thế kỷ sau.

Nhưng nếu chỉ nhìn Lê Quý Đôn như một "kho tri thức sống" thì vẫn chưa đủ.

Ẩn sau hàng vạn trang sách là một con người luôn đau đáu với vận mệnh dân tộc. Học để giúp nước, làm quan để giúp dân, khảo cứu để tìm lời giải cho sự hưng thịnh quốc gia - đó mới là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời ông.

Ông nhiều lần nhấn mạnh "dân là gốc của nước", coi sự thịnh suy của quốc gia phụ thuộc vào đời sống nhân dân. Trong tư tưởng chính trị, ông đề cao sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị, nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương của người cầm quyền và vai trò của hiền tài đối với quốc gia.

Đặc biệt, những lời cảnh báo của Lê Quý Đôn về nguy cơ suy vong của đất nước khi đạo lý xuống cấp, tham nhũng lan tràn, người tài không được trọng dụng vẫn mang tính thời sự sâu sắc. Sau 300 năm, đó không chỉ là những lời răn dạy của một học giả mà còn là bài học về sức mạnh nội sinh của một dân tộc.

Giá trị thời đại của một di sản văn hóa sống

Điều làm nên sự bất tử của Lê Quý Đôn không chỉ là những gì ông viết, mà còn là hệ giá trị ông để lại.

Trong giáo dục, ông phản đối lối học hư văn, đề cao thực học, thực hành và khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống. Những quan niệm như "đọc sách một thước không bằng làm được một tấc" hay "đọc được một chữ đem áp dụng một chữ" đến nay vẫn là tinh thần cốt lõi của nền giáo dục hiện đại - nơi năng lực sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề quan trọng hơn việc ghi nhớ máy móc.

Trong văn hóa, Lê Quý Đôn là người góp phần gìn giữ ký ức của dân tộc. Ông sưu tầm, hệ thống hóa và lưu truyền kho tàng lịch sử, văn học, phong tục, địa lý của Đại Việt, giúp nhiều giá trị văn hóa không bị mai một theo thời gian. Nhờ ông, hậu thế có thêm những "ký ức thành văn" để hiểu sâu hơn về cội nguồn dân tộc.

Trong ngoại giao, ông cũng thể hiện tầm nhìn của một trí thức lớn. Là sứ thần Đại Việt, Lê Quý Đôn luôn giữ vững lòng tự tôn dân tộc nhưng đồng thời sẵn sàng tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Đó là tư duy Hội nhập rất hiện đại: mở cửa để học hỏi nhưng không đánh mất bản sắc.

Chính vì vậy, việc UNESCO vinh danh Lê Quý Đôn không đơn thuần là ghi nhận một học giả nổi tiếng. Điều được tôn vinh chính là những giá trị phổ quát mà ông đại diện: Khát vọng tri thức, tinh thần đối thoại văn hóa, ý thức phụng sự cộng đồng và trách nhiệm đối với tương lai.

Trong thời đại chuyển đổi số và kinh tế tri thức, khi tri thức trở thành nguồn lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, di sản của Lê Quý Đôn càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc. Một dân tộc muốn phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên, mà phải dựa trên vốn tri thức, sức sáng tạo và nền tảng văn hóa.

Lê Quý Đôn từng dành cả cuộc đời để chứng minh rằng học vấn chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với vận mệnh đất nước. Đó cũng là thông điệp xuyên suốt mà hậu thế có thể tiếp nhận từ ông hôm nay.

Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn vì thế không chỉ là dịp tưởng nhớ một nhân vật lịch sử. Quan trọng hơn, đó là cơ hội khơi dậy tinh thần hiếu học, khát vọng cống hiến và ý thức phụng sự xã hội trong mỗi con người Việt Nam. Bởi một dân tộc biết trân trọng hiền tài, biết gìn giữ di sản văn hóa và không ngừng bồi đắp tri thức sẽ luôn có đủ nội lực để bước tới tương lai.

Ba trăm năm đã qua, những trang sách của Lê Quý Đôn vẫn chưa khép lại. Chúng tiếp tục đối thoại với hiện tại, soi sáng con đường phát triển của đất nước và nhắc nhở rằng: giá trị bền vững nhất mà một con người có thể để lại không phải là quyền lực hay của cải, mà là tri thức, nhân cách và khát vọng phụng sự dân tộc. Đó cũng chính là lý do để tên tuổi Lê Quý Đôn mãi thuộc về tương lai, chứ không chỉ thuộc về lịch sử.

Lê Quý Đôn (2/8/1726 - 11/6/1784), lúc nhỏ tên Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường; sinh tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam, sau là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên).

Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị mối mọt ăn mất.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, Lê Quý Đôn được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới.

V.X.B

Vũ Xuân Bân

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ky-niem-300-nam-ngay-sinh-le-quy-don-di-san-cua-mot-tri-tue-lon-va-khat-vong-phat-trien-a34453.html