Chuyển đổi số gắn với phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Góp ý về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đã thảo luận về việc ứng dụng nền tảng số cũng như nêu giải pháp hỗ trợ...

Góp ý kiến về nội dung chuyển đổi số gắn liền với việc phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân ở cơ sở, sáng 30/10, thảo luận về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, Phó trưởng đoàn ĐBQH TP.HCM nhấn mạnh đến các phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

Mô hình “Cà phê số” đưa hoạt động phổ cập kỹ năng số vào không gian sinh hoạt thường ngày ở TP.HCM. Ảnh: Cao Cường.

Mô hình “Cà phê số” đưa hoạt động phổ cập kỹ năng số vào không gian sinh hoạt thường ngày ở TP.HCM. Ảnh: Cao Cường.

Đại biểu Trúc đề nghị người dân phải được biết đầy đủ, kịp thời, rõ ràng và dễ tiếp cận thông tin. Do đó, việc công khai không nên dừng lại ở việc đăng tải văn bản lên các nền tảng số. Điều cốt lõi là người dân phải nắm và hiểu được những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 

Bà Trúc kiến nghị bổ sung tại Điều 12 trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc công khai thông tin trên nền tảng số theo tiêu chí dễ tìm, dễ hiểu, dễ kiểm chứng; đồng thời duy trì các hình thức công khai truyền thống phù hợp cho những người dân chưa có điều kiện sử dụng công nghệ.

Về nguyên tắc "dân bàn", đại biểu cho rằng việc dự thảo luật mở rộng các hình thức họp lấy ý kiến nhân dân qua nền tảng số tại Điều 14 và Điều 18 là rất đáng ghi nhận, nhưng điều quan trọng không chỉ là tạo điều kiện đóng góp ý kiến mà còn phải bảo đảm mọi ý kiến đóng góp đều được ghi nhận, xem xét và phản hồi công khai.

Đồng thời cần quy định rõ tại Điều 19 về thời hạn hoàn thành việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình trong trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa có quy định. Việc công khai này cần thực hiện chi tiết theo từng nhóm vấn đề, nêu rõ nội dung nào được tiếp thu, nội dung nào không được tiếp thu kèm theo lý do cụ thể để nhân dân thuận tiện tra cứu và giám sát.

Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, Phó trưởng đoàn ĐBQH TP.HCM. Ảnh: Media Quốc hội.

Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, Phó trưởng đoàn ĐBQH TP.HCM. Ảnh: Media Quốc hội.

Về nguyên tắc "dân làm", đại biểu nêu rõ, chuyển đổi số cần giúp người dân không chỉ tham gia vào công việc chung mà còn trực tiếp theo dõi được tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện. Đề nghị cần cụ thể hóa cơ chế theo dõi kiến nghị trên các hệ thống số hiện hữu: Từ việc cấp mã tra cứu, xác nhận tiếp nhận, cập nhật cơ quan thụ lý, thời hạn giải quyết theo quy định, cho đến tiến độ và kết quả thực hiện cuối cùng.

Bên cạnh đó, khi chuyển tiếp kiến nghị hoặc xảy ra tình trạng chậm trễ xử lý, hệ thống phải thông báo rõ đơn vị tiếp nhận, nguyên nhân và đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi. Hệ thống cũng cần phân biệt rõ ràng giữa trạng thái "đã chuyển", "đã trả lời" với kết quả giải quyết thực tế và việc thực thi kết quả đó. Song song đó, phải chú trọng công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đối với nguyên tắc "dân thụ hưởng", đại biểu Trúc nhấn mạnh đây chính là thước đo cuối cùng đánh giá hiệu quả của công cuộc chuyển đổi số trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Đại biểu đề xuất cụ thể hóa các tiêu chí định lượng về tỷ lệ kiến nghị được xử lý đúng hạn, mức độ hài lòng của nhân dân và gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần có giải pháp bảo đảm cho người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ vẫn thực hiện đầy đủ quyền dân chủ thông qua các hình thức phù hợp.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy. Ảnh: Media Quốc hội.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy. Ảnh: Media Quốc hội.

Trong khi đó, đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn Khánh Hòa) cho rằng, hiện nay tại các thôn, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc các vùng hải đảo, hạ tầng viễn thông, sóng 4G/5G chưa thật sự đồng đều; tỷ lệ người dân sở hữu thiết bị thông minh và kỹ năng thao tác trên môi trường số còn hạn chế nhất định; một bộ phận bà con dân tộc thiểu số chưa thạo tiếng phổ thông. 

Nếu chính quyền cơ sở chỉ đăng tải thông tin hoặc tổ chức lấy ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số thì nguy cơ một bộ phận đồng bào khó thực hiện một cách thực chất quyền dân chủ ở cơ sở.

Từ phân tích trên, đại biểu kiến nghị dự thảo luật cần thể hiện rõ nguyên tắc: Việc ứng dụng nền tảng số phải thực hiện song song với việc duy trì ổn định, hiệu quả các phương thức dân chủ trực tiếp truyền thống (như họp thôn, tổ dân phố) để không làm thu hẹp quyền của người dân khi chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ. 

Đồng thời cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng số vùng khó khăn; xây dựng các cổng thông tin, ứng dụng số cơ sở có giao diện đơn giản, thân thiện, có tích hợp hỗ trợ âm thanh và song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số phổ biến ở địa phương).

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn Cần Thơ) thì đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật theo hướng hình thành một quy trình dân chủ số thống nhất, bao gồm các bước: Công khai thông tin, lấy ý kiến, đối thoại, tiếp nhận, phân loại, chuyển xử lý, cập nhật tiến độ, phản hồi, lưu trữ và tra cứu kết quả. Quy trình này cần bảo đảm tính liên thông dữ liệu, phù hợp các tiêu chuẩn an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư.

Về việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, dự thảo luật bổ sung các quy định về nguyên tắc thực hiện, quyền và nghĩa vụ của công dân khi tham gia ý kiến, bàn và quyết định bằng hình thức trực tuyến; quy định biện pháp bảo đảm và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc xây dựng, thiết lập nền tảng số. Trong đó, dự thảo luật chú trọng các biện pháp để người dân dễ tiếp cận, tham gia phản ánh, kiến nghị và giám sát trên môi trường số; bảo đảm tính xác thực, lưu trữ và bảo mật thông tin, dữ liệu cũng như kết quả thực hiện dân chủ.

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ, việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số được triển khai song song với các phương thức truyền thống, bảo đảm quyền tiếp cận và tham gia của người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Văn Duẩn

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/chuyen-doi-so-gan-voi-phat-huy-quyen-lam-chu-cua-nhan-dan-192261030133149943.htm