Chuyện trầu cau nơi làng biển Tân Thái
Tại làng Tân Thái, ngôi làng ven biển có lịch sử hình thành lâu đời dưới chân bán đảo Sơn Trà, mâm trầu cau rượu từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của cư dân. Từ đình làng, nhà thờ tộc đến mỗi gia đình, lễ vật này luôn hiện diện trong các dịp cúng tế, giỗ chạp, lễ hội, cưới hỏi và những sự kiện quan trọng của cộng đồng.

người dân xây mâm trầu cho lễ tri niệm tiền nhân, tế Xuân, tế Thu hay lễ giỗ chạp. Ảnh: H.V.M
Không chỉ là lễ vật dâng cúng, cách bài trí trầu cau trên mâm lễ còn chứa đựng những tri thức dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Trong các ngày lễ tri niệm tiền nhân tại đình làng, giỗ chạp... lá trầu thường được xây thành một lớp lá đôi theo hình xoắn ốc, phần cọng đặt ở ngoài, đọt trầu hướng vào trong. Người xưa quan niệm cách sắp xếp này tượng trưng cho sự hội tụ của chư phái tộc cùng hướng về ngày tri niệm tiền nhân. Đây cũng là dịp để các thành viên trong dòng họ trở về nhà thờ tộc, cùng nhau chuẩn bị lễ vật, dâng lên tổ tiên.
Trong các ngày báo hỷ, gốc trầu thường đặt ở giữa mâm, với phần đọt hướng ra ngoài. Hình thức này mang ý nghĩa niềm vui được lan tỏa, hạnh phúc được sẻ chia đến bà con thân tộc và cộng đồng làng xóm. Từ những chi tiết tưởng chừng giản đơn ấy có thể thấy người dân Tân Thái đã gửi gắm vào mâm trầu cau những quan niệm nhân văn về gia đình, dòng tộc và cộng đồng.
Đối với cư dân làng biển, mâm trầu cau rượu còn gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng dân gian. Trong lễ Cầu ngư, nghi lễ rất quan trọng của cư dân vùng biển - lễ vật này được dâng lên thần Nam Hải cùng các bậc tiền nhân khai canh ra nghề biển, là cầu nối giữa con người với tổ tiên và thần linh.
Còn trong phong tục cưới hỏi, lễ vật này lại mang ý nghĩa kết nối giữa hai gia đình, hai dòng họ và mở đầu cho cuộc sống hôn nhân của đôi bạn trẻ. Từ lâu, trầu cau đã trở thành biểu tượng của tình yêu, sự thủy chung và nghĩa tình vợ chồng trong văn hóa Việt Nam.
Theo lễ cưới truyền thống, thường thì có hai mâm quan trọng là mâm Gia Lang và mâm Giá Thú, đi kèm khay trầu cau rượu để trình giờ.
Trong đó, mâm Gia Lang được sử dụng trong lễ thỉnh kỳ, mang ý nghĩa thưa trình với ông Hương bộ một chức sắc đại diện cho hộ tịch làng xã để xác nhận việc kết duyên của đôi bạn trẻ theo đúng lễ nghi truyền thống. Đây là nghi thức thể hiện sự tôn trọng gia phong, phép tắc và sự chứng giám của ông Hương bộ đối với hôn sự của hai gia đình.
Mâm Giá Thú là lễ vật chính trong ngày cưới, được dùng để kính cáo gia tiên, thưa trình với hai họ và cũng là báo hỷ. Trầu cau trong lễ cưới thường được xếp thành hai lớp lá đôi, phần gốc đặt ở giữa, đọt hướng ra ngoài, tạo hình như đóa sen đang nở. Hình ảnh ấy tượng trưng cho sự gắn bó của đôi lứa, sự tiếp nối huyết thống và niềm vui sum vầy lan tỏa đến gia đình, và dòng tộc.
Ngày xưa, trong lễ cưới truyền thống còn có tục một đôi quang gánh tơ duyên “song quả” gồm bốn lễ vật mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp.
Để người xưa thưa chuyện hôn sự: Nhứt phù loan tửu thành bàn là một bàn trầu rượu dùng để cáo gia tiên, tượng trưng cho nghĩa tình phu thê son sắt, trước sau thủy chung. Nhứt trư thành quỹ là một con lợn lễ, biểu trưng cho sự sung túc, đủ đầy và mong ước cuộc sống no ấm về sau. Nhứt hoa nhĩ thành song là một đôi bông tai, gửi gắm ước nguyện con cháu đề huề, gia đạo yên vui, hạnh phúc. Nhứt sơ mi thành tập là một bộ áo dài, tượng trưng cho nền nếp gia phong. Mỗi lễ vật đều gửi gắm những lời chúc phúc tốt đẹp về tình nghĩa vợ chồng, cuộc sống sung túc, con cháu đề huề và gia phong bền vững.
Qua từng lễ vật, từng cách bài trí và từng nghi thức, người dân làng biển đã gửi gắm những giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc. Trải qua thời gian, nhiều nghi thức cổ truyền đã có những điều chỉnh để phù hợp với nhịp sống hiện đại. Tuy nhiên, mâm trầu cau rượu vẫn được người dân làng Tân Thái gìn giữ như một phần ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa quê hương.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/chuyen-trau-cau-noi-lang-bien-tan-thai-3340425.html











