Cơ hội để ngành lúa gạo Việt nâng cấp chuỗi sản xuất
Thị trường Liên minh Châu Âu (EU) mang đến định hướng quan trọng cho ngành lúa gạo Việt Nam khi đặt ra các tiêu chuẩn cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, tổ chức vùng nguyên liệu… Qua đó, tạo cơ hội để ngành lúa gạo Việt tăng giá trị xuất khẩu, nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất.
Thị trường yêu cầu cao, giá trị gia tăng lớn
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, EU là một trong những thị trường có yêu cầu rất cao đối với sản phẩm nông sản nhập khẩu, trong đó có gạo. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường mang lại giá trị gia tăng lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Xuất khẩu gạo Việt sang thị trường EU tăng mạnh trong những năm gần đây. Ảnh: Hồng Thắm
Đối với mặt hàng gạo, EU áp dụng nhiều cơ chế khác nhau tùy theo từng phân khúc như gạo thơm, gạo trắng chất lượng cao hay gạo phục vụ chế biến. Riêng với gạo thơm, EU có quy định danh mục các giống lúa được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).
Đối với Việt Nam, danh mục này hiện gồm nhiều giống lúa thơm đặc sản đã được phía EU công nhận. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải chứng minh được tính xác thực của giống lúa. Chẳng hạn, nếu khai báo là gạo ST25 thì toàn bộ quá trình sản xuất, thu hoạch và xuất khẩu phải chứng minh được đó thực sự là giống ST25. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc chứ không phải là một rào cản kỹ thuật mới.
Ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin: Mới đây, EU điều chỉnh danh mục giống gạo thơm được hưởng ưu đãi, đây là tín hiệu tích cực.
Thực tế, những năm gần đây, ngành lúa gạo Việt Nam liên tục xuất hiện những giống lúa mới có chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn và phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Trong khi đó, một số giống đã từng phổ biến có thể dần thu hẹp diện tích hoặc không còn được sản xuất nhiều. Vì vậy, việc EU định kỳ rà soát, cập nhật danh mục giống gạo thơm là cần thiết để phù hợp với thực tiễn sản xuất.
“Quá trình này thường được thực hiện trên cơ sở trao đổi giữa phía EU và Việt Nam. Chúng ta chủ động đề xuất các giống mới có tiềm năng xuất khẩu để bổ sung vào danh mục ưu đãi. Do đó, không nên nhìn nhận đây là việc EU siết chặt điều kiện nhập khẩu, mà cần coi đây là cơ hội để các giống lúa mới của Việt Nam tiếp cận thị trường giá trị cao”, ông Nghiêm Quang Tuấn nhận định.
Đáng chú ý, từ ngày 1-7-2026, thủ tục chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA và Hiệp định Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) sẽ chính thức được phân cấp cho UBND cấp tỉnh thực hiện.
Nhiều chuyên gia đánh giá, đây là một cải cách thủ tục hành chính tích cực. Việc phân cấp sẽ giúp địa phương chủ động hơn trong xử lý hồ sơ, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và giảm áp lực cho cơ quan quản lý trung ương, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Gạo phát thải thấp sẽ là lợi thế mới của Việt Nam
Nhìn nhận về những lợi thế của gạo Việt, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam Lê Thanh Tùng cho hay, xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện không chỉ dựa vào một phân khúc mà bao gồm nhiều nhóm sản phẩm khác nhau như gạo đặc sản, gạo thơm, gạo chất lượng cao, gạo phục vụ chế biến.

Gạo ST25 của Việt Nam được xuất khẩu sang EU và các thị trường khó tính. Ảnh: moit.gov.vn
Trong bối cảnh đó, thị trường EU mang đến một định hướng rất quan trọng cho ngành lúa gạo Việt Nam. Không chỉ yêu cầu về chất lượng sản phẩm, EU còn đặt ra các tiêu chuẩn cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, tổ chức vùng nguyên liệu và tính bền vững trong sản xuất. Để đáp ứng những yêu cầu này, doanh nghiệp buộc phải xây dựng các vùng nguyên liệu ổn định, liên kết chặt chẽ với nông dân và duy trì chất lượng sản phẩm trong nhiều năm liên tục.
“Đây chính là giá trị lớn nhất mà thị trường EU mang lại. Không chỉ tạo cơ hội xuất khẩu mà còn thúc đẩy ngành lúa gạo Việt Nam nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất. Khi đáp ứng được các tiêu chuẩn của EU, doanh nghiệp cũng có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận các thị trường khó tính khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia hay Bắc Mỹ”, ông Lê Thanh Tùng nhấn mạnh.
Với gạo phát thải thấp, nhiều chuyên gia đồng quan điểm, sản phẩm này sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Hiện nay, quy mô thị trường dành riêng cho gạo phát thải thấp trên thế giới vẫn còn tương đối nhỏ. Một số quốc gia châu Âu và nhóm khách hàng quan tâm đến phát triển bền vững sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm đáp ứng tiêu chí này.
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy cho rằng, điều quan trọng nhất đối với người nông dân vẫn là hiệu quả kinh tế. Nếu canh tác giảm phát thải giúp giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo điều kiện bán được giá tốt hơn thì người nông dân sẽ sẵn sàng tham gia.
Trong khi đó, nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm phát thải thấp vẫn đang trong quá trình hình thành. Hiện nay, nhiều người tiêu dùng vẫn ưu tiên lựa chọn gạo ngon, thương hiệu mạnh hoặc mẫu mã hấp dẫn trước khi quan tâm đến yếu tố phát thải.
Vì vậy, cùng với việc phát triển sản xuất, Việt Nam cần từng bước xây dựng thị trường cho các sản phẩm gạo phát thải thấp. Về lâu dài, khi các cam kết giảm phát thải toàn cầu được triển khai mạnh mẽ hơn, đây sẽ là lợi thế quan trọng giúp gạo Việt Nam gia tăng sức cạnh tranh tại các thị trường cao cấp.
Việc duy trì và mở rộng sự hiện diện tại thị trường EU không chỉ giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn đóng vai trò như “tấm giấy thông hành” để gạo Việt Nam bước vào các thị trường cao cấp khác trên thế giới. Khi chất lượng được chứng minh bằng thực tế thị trường và các tiêu chuẩn quốc tế, thương hiệu gạo Việt Nam sẽ ngày càng được củng cố, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành lúa gạo trong những năm tới.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam Lê Thanh Tùng











![[VIDEO] Chi phí tăng chồng chất, doanh nghiệp xoay xở giữ giá giữ khách](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2_sm/2026_06_23_180_55458931/cf62bcf0d2bb3be562aa.jpg)
