Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
PV: Thưa ông, nhu cầu vốn trung và dài hạn gia tăng, đặt ra yêu cầu đa dạng hóa kênh huy động bên cạnh tín dụng ngân hàng. Theo ông, thị trường trái phiếu có thể phát huy vai trò như thế nào trong quá trình này?

Ông Đỗ Lê Thành Đạt
Ông Đỗ Lê Thành Đạt: Theo tôi, thị trường trái phiếu có vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Trong đó, trái phiếu là kênh bổ trợ cho tín dụng ngân hàng, chứ không phải thay thế hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng có lợi thế thẩm định, giám sát và cấp tín dụng. Tuy nhiên, vốn huy động chủ yếu có kỳ hạn ngắn, trong khi các dự án hạ tầng, năng lượng, bất động sản công nghiệp hay chuyển đổi xanh thường cần vốn từ 10 đến 30 năm. Việc phụ thuộc vào ngân hàng có thể làm tăng chênh lệch kỳ hạn huy động và cho vay. Theo số liệu chúng tôi theo dõi, nguồn vốn kỳ hạn trên một năm chỉ chiếm khoảng 15% tổng nợ phải trả của các ngân hàng, tính theo trung vị.
Trái phiếu góp phần giải quyết khoảng trống này, giúp doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp từ các nhà đầu tư dài hạn như doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, phù hợp hơn với thời gian đầu tư và thu hồi vốn. Điều này cũng góp phần giảm áp lực cung cấp vốn dài hạn lên ngân hàng.
Quan trọng hơn, thị trường trái phiếu còn hỗ trợ định giá rủi ro. Khi thông tin minh bạch, nhà đầu tư đa dạng và giá tham chiếu đáng tin cậy, chi phí vốn phản ánh rõ hơn chất lượng tín dụng. Doanh nghiệp có tài chính lành mạnh, quản trị tốt, dòng tiền ổn định có thể huy động vốn thuận lợi hơn; ngược lại, rủi ro cao thường đi kèm lợi suất cao hơn. Qua đó, thị trường vừa mở rộng nguồn vốn, vừa hỗ trợ phân bổ theo kỳ hạn và rủi ro.

Trái phiếu kết nối vốn dài hạn với nhu cầu phát triển hạ tầng. Ảnh: Đức Thanh
PV: Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một ưu tiên nhằm tạo động lực tăng trưởng. Theo ông, triển vọng trái phiếu hạ tầng tại Việt Nam ra sao và cần những điều kiện nào để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn?
Ông Đỗ Lê Thành Đạt: Trái phiếu hạ tầng còn nhiều dư địa. Chúng tôi ước tính giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn hạ tầng vượt 450 tỷ USD, trong đó khu vực tư nhân đóng góp trên 150 tỷ USD; khoảng 20 - 25 tỷ USD cần huy động qua thị trường vốn. Giai đoạn 2021 - 2025, vốn huy động qua kênh này mới đạt khoảng 3,9 tỷ USD. Phát triển hạ tầng cũng là một trong ba đột phá chiến lược, với đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, thu hút nguồn lực ngoài nhà nước.
Việt Nam có nguồn tiền dài hạn đáng kể: Quỹ Bảo hiểm xã hội quản lý khoảng 1,5 triệu tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm khoảng 902 nghìn tỷ đồng. Các nhà đầu tư này cần kỳ hạn và mức rủi ro phù hợp với nghĩa vụ tài chính.
Việt Nam phấn đấu sớm đạt xếp hạng tín nhiệm mức Đầu tư
Ngày 15/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030, đặt mục tiêu phấn đấu sớm đạt xếp hạng tín nhiệm quốc gia mức Đầu tư. Giai đoạn 2026 - 2030, nợ công hằng năm không quá 60% GDP; nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia đều không quá 50% GDP.
Dự án hạ tầng thường kéo dài 15 - 30 năm, đòi hỏi vốn ban đầu lớn, trong khi doanh nghiệp dự án có thể chưa có lịch sử tín dụng. Vì vậy, cần đánh giá dòng tiền trả nợ suốt thời hạn trái phiếu, không chỉ dựa vào chủ đầu tư. Dữ liệu chúng tôi theo dõi cho thấy, giải phóng mặt bằng liên quan tới 56% trường hợp chậm tiến độ; khoảng 40% trong số 52 dự án BOT giao thông có doanh thu dưới 70% phương án tài chính.
Từ kinh nghiệm phân tích, theo tôi có ba yếu tố chính. Trước hết, cần phân bổ vốn theo giai đoạn: ngân hàng phù hợp hơn trong thời kỳ xây dựng, còn trái phiếu dài hạn có thể dùng để tái cấp vốn khi dự án vận hành ổn định.
Tiếp đó là dự báo và kiểm soát dòng tiền. Các dự án điện BOT Phú Mỹ 2.2 và Mông Dương 2 huy động vốn quốc tế nhờ hợp đồng mua điện dài hạn, cam kết của Chính phủ và cơ chế ưu tiên trả nợ. Cuối cùng là cấu trúc công cụ nợ: bảo lãnh hoặc phân lớp rủi ro có thể tạo ra phần nợ phù hợp với nhà đầu tư tổ chức. Xếp hạng tín nhiệm công cụ nợ giúp họ nhận diện cụ thể rủi ro phải gánh chịu.
PV: Cùng với nguồn vốn trong nước, thu hút nhà đầu tư quốc tế cũng đáng chú ý. Từ góc độ xếp hạng tín nhiệm, ông nhìn nhận triển vọng dòng vốn ngoại và điều kiện tăng sức hấp dẫn của trái phiếu Việt Nam ra sao?
Ông Đỗ Lê Thành Đạt: Tôi đánh giá triển vọng trung và dài hạn tích cực, trước hết nhờ cải thiện tín nhiệm quốc gia. Tháng 5/2026, Moody’s nâng triển vọng tín nhiệm Việt Nam lên Tích cực, giữ mức Ba2; S&P và Fitch xếp hạng ở mức BB+, dưới ngưỡng đầu tư một bậc. Ngày 8/10/2026, R&I nâng xếp hạng Việt Nam lên BBB-, lần đầu đưa Việt Nam vào nhóm đầu tư theo thang đánh giá của tổ chức này. Thị trường cổ phiếu Việt Nam cũng được FTSE Russell nâng hạng từ ngày 21/9/2026.
Tín nhiệm cải thiện hỗ trợ tiếp cận vốn quốc tế. Bộ Tài chính làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm nhằm thực hiện mục tiêu nâng hạng quốc gia trong Chiến lược phát triển tài chính đến năm 2030. Xếp hạng quốc gia là điểm tham chiếu định giá rủi ro; khi được cải thiện, cơ hội huy động vốn của ngân hàng, doanh nghiệp có thể mở rộng. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn xem xét lợi suất và rủi ro từng trái phiếu.
Hoàn thiện chính sách cho trái phiếu hạ tầng
Theo ông Đỗ Lê Thành Đạt, khuôn khổ PPP được bổ sung cơ chế chia sẻ rủi ro, trong khi kỷ luật thị trường trái phiếu tiếp tục được củng cố. Dự thảo quy định về phát hành trái phiếu dự án PPP ra công chúng cũng đề cập vai trò của bảo lãnh thanh toán và xếp hạng tín nhiệm, phù hợp với định hướng huy động vốn dài hạn trong Chiến lược phát triển tài chính đến năm 2030.
Theo tôi, cần chú trọng ba yếu tố. Thứ nhất là thông tin tín dụng minh bạch, có thể so sánh. Nhà đầu tư nước ngoài thường ít lợi thế thông tin hơn nhà đầu tư trong nước. Xếp hạng tín nhiệm giúp họ phân biệt rủi ro giữa các tổ chức phát hành, thay vì áp cùng mức chiết khấu cho cả thị trường.
Thứ hai là phát triển chiều sâu thị trường, gồm thanh khoản thứ cấp, giá tham chiếu đáng tin cậy và công cụ quản trị rủi ro lãi suất, tỷ giá. Hoàn thiện hạ tầng giao dịch cũng giúp nhà đầu tư quản lý danh mục sau khi mua trái phiếu.
Thứ ba là phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của các định chế quốc tế, nhất là trái phiếu hạ tầng, năng lượng và tài chính xanh. Các biện pháp tăng cường tín dụng có thể hỗ trợ thu hút vốn. Chẳng hạn, trái phiếu China Water Affairs được CGIF bảo lãnh 100%, đạt mức AA dù tổ chức phát hành ở mức Ba1/BB+, qua đó thu hút cả quỹ đầu tư quốc gia.
Cùng với tín nhiệm quốc gia, cần nâng chất lượng công bố thông tin, thanh khoản và cấu trúc sản phẩm. Mục tiêu không chỉ là thu hút thêm vốn, mà còn giúp nhà đầu tư quốc tế hiểu, định giá và sẵn sàng nắm giữ trái phiếu Việt Nam dài hạn.
PV: Xin cảm ơn ông!
