Cơ hội thu hút dòng vốn chất lượng cao
Theo các chuyên gia kinh tế, việc đầu tư vào cảng biển xanh không chỉ là trách nhiệm môi trường, mà còn là cơ hội để thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Tàu cập Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép (TCIT). Ảnh: Hạ Lan.
Đòi hỏi cấp thiết
Theo ông Trần Đức Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hà Nội, vận tải biển đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối hàng hóa giao thương giữa các nước thế giới. Hơn 80% sản lượng hàng hóa thương mại được vận tải bằng đường biển. Tại Việt Nam, vận tải biển là huyết mạch chính trong hệ thống vận chuyển, phân phối hàng hóa của nền kinh tế. Do vậy việc đầu tư vào cảng xanh không chỉ là trách nhiệm môi trường mà còn là cơ hội để thu hút dòng vốn chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ông Nghĩa cũng cho hay, khi các tiêu chuẩn xanh trở thành “tấm vé thông hành” trong thương mại toàn cầu, việc chậm chuyển đổi sẽ khiến ngành hàng hải Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị tụt lại phía sau. Ngược lại, nếu tận dụng tốt cơ hội này, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại, thân thiện môi trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.
Tại quyết định số 876/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê tan của ngành giao thông vận tải đã nêu rõ, phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại, dịch vụ chất lượng cao, ưu tiên phát triển các khu bến cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Cái Mép; triển khai đề án phát triển cảng xanh. Đồng thời, xây dựng, ban hành quy định, tiêu chí cảng xanh; triển khai áp dụng tiêu chí cảng xanh tại các cảng biển Việt Nam.
Hiện Việt Nam có khoảng 320 bến cảng/tàu cảng, 34 cảng biển quốc gia, với tổng công suất thiết kế đạt khoảng 950 triệu tấn/năm. Các cảng biển có quy mô lớn nằm ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TPHCM… Nhiều cảng nước sâu hiện đại đã đi vào hoạt động, như Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện, đủ khả năng đón tàu container trọng tải đến trên 200.000 DWT, kết nối trực tiếp với các tuyến xuyên Thái Bình Dương và châu Âu.
Cần cơ chế chính sách đủ mạnh
Ông Lê Quang Trung - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) cho biết, VIMC là một trong những đơn vị quản lý số lượng cầu cảng lớn nhất cả nước với 89 cầu cảng có tổng chiều dài 16.500m. Công suất bốc dỡ của các cảng thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam khoảng 80 triệu tấn hàng rời và 6,5 triệu TEU Container. Tại Việt Nam, vận tải biển là huyết mạch chính trong hệ thống vận chuyển, phân phối hàng hóa của nền kinh tế. Theo ông Trung, việc đẩy mạnh chuyển đổi xanh sẽ giúp hệ thống cảng biển nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.
Đồng quan điểm, Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hà Nội Trần Đức Nghĩa cho hay, tại Việt Nam, xu hướng phát triển cảng xanh đã bắt đầu được quan tâm, với một số cảng từng bước đầu tư vào thiết bị tiết kiệm năng lượng, áp dụng hệ thống quản lý môi trường và thúc đẩy chuyển đổi số. Song, quá trình này vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức như chi phí đầu tư lớn, công nghệ chưa đồng bộ. Do đó, cần các cơ chế chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp tham gia như ưu đãi về tài chính, tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ.
Hiện nay công suất cảng biển của Việt Nam đã tăng gần gấp đôi sau 10 năm. Lợi thế chiến lược của Việt Nam đó là kết nối hàng hải trực tiếp đến Bắc Mỹ và châu Âu mà không cần trung chuyển qua các cảng khác trong khu vực. Thêm vào đó, các tập đoàn thiết bị điện tử lớn như Samsung cũng coi Việt Nam là điểm trung chuyển chính. Hiện khu vực phía Nam của Việt Nam đang là “điểm nóng” đầu tư cảng biển xanh.
Giới chuyên gia khuyến cáo, quá trình “xanh hóa” hạ tầng cảng cần được triển khai dựa trên ba trụ cột chính. Đó là, điện hóa đóng vai trò nền tảng thông qua việc thay thế các động cơ phụ trợ và thiết bị xếp dỡ hàng hóa chạy bằng nhiên liệu hóa thạch bằng nguồn điện bờ được kết nối với lưới, cùng với việc sử dụng cần cẩu điện, xe tự hành (AGV) và hệ thống cấp nguồn cho container lạnh; Tự động hóa, giúp triển khai các hệ thống thông minh nhằm tối ưu lịch cập bến, vận hành cần cẩu từ xa và thực hiện bảo trì dự đoán, qua đó giảm chi phí vận hành và hạ thấp lượng phát thải carbon trên mỗi đơn vị container (TEU); Số hóa cho phép tích hợp các hệ thống quản lý năng lượng, bản sao số (digital twins), giúp tối ưu dòng năng lượng, quản lý nhu cầu vào giờ cao điểm và mang lại khả năng giám sát theo thời gian thực trong môi trường cảng đa năng lượng ngày càng phức tạp.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/co-hoi-thu-hut-dong-von-chat-luong-cao.html











