Cơ khí chế tạo: Tạo đòn bẩy chính sách, đẩy nhanh thực hiện Nghị quyết 57

Để đẩy nhanh thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, yêu cầu đặt ra đối với ngành cơ khí chế tạo không chỉ dừng ở gia công, chế tạo từng phần mà cần từng bước làm chủ thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và tổng thầu ở các lĩnh vực ưu tiên.

“Bài toán” cơ chế và nội lực doanh nghiệp

Theo số liệu từ Cục Thống kê và Bộ Công Thương, quy mô sản xuất toàn ngành cơ khí tăng nhanh trong giai đoạn 2018-2025. Tổng giá trị sản xuất cơ khí tăng từ khoảng 1.626,3 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên khoảng 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, tương đương gần 2 lần; tốc độ tăng trưởng bình quân ước khoảng 10,3%/năm. Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 384,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 1.557,7 nghìn tỷ đồng năm 2025…

Viện Nghiên cứu Cơ khí cung cấp dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn cho nhiều dòng xe điện

Viện Nghiên cứu Cơ khí cung cấp dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn cho nhiều dòng xe điện

Các con số này cho thấy, cơ khí Việt Nam đã lớn lên rõ rệt cả về sản xuất và tham gia thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nền tảng phát triển vẫn chưa thật vững, vì khu vực FDI còn chi phối rất lớn, chiếm khoảng 92-93% giá trị xuất khẩu và khoảng 75% giá trị nhập khẩu trong những năm gần đây.

Rà soát việc thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam cho thấy, kết quả nổi bật nhất là quy mô sản xuất được mở rộng, một số phân ngành có bước phát triển và xuất khẩu tăng nhanh, với giá trị xuất khẩu năm 2025 gấp khoảng 4 lần so với năm 2018.

Song, các kết quả về chiều sâu còn hạn chế. Năng lực làm chủ công nghệ lõi, hình thành tổ hợp tư vấn - chế tạo mạnh và nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước trong các dự án trọng điểm chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Sự phát triển giữa các phân ngành còn thiếu đồng đều; nhiều lĩnh vực công nghệ cao vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa vào khu vực FDI, cho thấy nội lực và vị thế của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.

Nguyên nhân của thực trạng trên đến từ cơ chế và nội lực doanh nghiệp. Hệ thống cơ chế thực thi và nguồn lực hỗ trợ chưa đủ đồng bộ, đủ mạnh để đưa các mục tiêu của chiến lược vào thực tế. Bên cạnh đó, ngành cơ khí thiếu một thị trường nội địa ổn định, thiếu các đơn hàng dài hạn từ những dự án quốc gia để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm và từng bước làm chủ công nghệ lõi.

Nội lực của phần lớn doanh nghiệp trong nước còn yếu, quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế; không ít doanh nghiệp khi thị trường thuận lợi vẫn chọn nhập khẩu thay vì kiên trì đầu tư tự chủ. Vai trò của các doanh nghiệp "đầu đàn" cũng chưa như kỳ vọng, nhất là trong việc dẫn dắt và nâng đỡ hệ thống doanh nghiệp vệ tinh trong nước.

Thực tiễn triển khai cho thấy, một chiến lược đúng mới chỉ là điều kiện cần. Muốn có kết quả, phải có chương trình hành động cụ thể, có trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ rõ ràng cho từng lĩnh vực ưu tiên.

Bài học quan trọng là phải gắn nâng cao năng lực doanh nghiệp với khai thác thị trường nội địa. Các dự án trọng điểm quốc gia cần được xem như “đơn hàng lớn” và cũng là môi trường thử thách để doanh nghiệp cơ khí trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, qua đó tích lũy kinh nghiệm, mở rộng quy mô và tiến tới làm chủ công nghệ.

Nắm bắt thị trường, phá vỡ vòng “luẩn quẩn”

Dung lượng thị trường cơ khí giai đoạn 2026-2045 được dự báo có thể đạt khoảng 21.699,6 nghìn tỷ đồng. Như vậy, thị trường trong nước đủ lớn để tạo động lực mới cho ngành cơ khí, nhưng cần lựa chọn đúng trọng tâm. Các lĩnh vực nên ưu tiên gồm đường sắt, năng lượng, lưới điện, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu, ô tô - xe máy, thiết bị điện, cơ khí nông nghiệp, thiết bị đồng bộ và dịch vụ kỹ thuật sau đầu tư. Đây là các lĩnh vực vừa có quy mô thị trường lớn, vừa có khả năng lan tỏa sang công nghiệp hỗ trợ và hình thành doanh nghiệp cơ khí nòng cốt.

Thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống vận chuyển than nhà máy nhiệt điện

Thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống vận chuyển than nhà máy nhiệt điện

Nói cách khác, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị của các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.

Vì vậy, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho ngành cơ khí giai đoạn 2026-2045 là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”, từng bước giúp doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi cảnh làm thuê ngay trên "sân nhà".

Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đẩy mạnh công nghiệp hóa và Chiến lược phát triển ngành cơ khí, cần có chính sách đủ mạnh để biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước, thay vì để phần lớn giá trị rơi vào nhà thầu nước ngoài. Chỉ khi có cơ chế mang tính đột phá, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư vào các khâu cốt yếu như thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án, từ đó tạo nền tảng cho một nền công nghiệp cơ khí tự chủ hơn.

Cơ chế, chính sách tạo đột phá trong giai đoạn tới cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra. Không nên dàn trải cho toàn ngành, mà cần tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao.

Trước mắt, cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau: Phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm gắn với thị trường và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị; nâng cao năng lực thiết kế, nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ; phát triển doanh nghiệp cơ khí nòng cốt và nâng cao năng lực sản xuất; phát triển nguồn nhân lực cho ngành cơ khí.

Đặc biệt, trong bối cảnh các ngành, lĩnh vực đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các chính sách cần tạo điều kiện từng bước đưa doanh nghiệp cơ khí Việt Nam từ vị trí chủ yếu gia công, chế tạo từng phần lên làm chủ thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và tổng thầu trong các lĩnh vực ưu tiên như đường sắt, điện gió ngoài khơi, điện khí, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu. Đến năm 2035, hình thành ít nhất 1 trung tâm thử nghiệm đường sắt quốc gia phục vụ mô phỏng, thử nghiệm và cấp chứng nhận độc lập.

Trong giai đoạn 2026-2035, ưu tiên lựa chọn ít nhất 1 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia cho từng nhóm sản phẩm quan trọng như thiết bị đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu; đồng thời đến năm 2030, trong mỗi nhóm sản phẩm ưu tiên hình thành ít nhất 1 chương trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm cấp quốc gia hoặc cấp bộ, gắn với doanh nghiệp nòng cốt và sản phẩm đầu ra cụ thể.

Giai đoạn 2026-2045, mở ra thị trường rất lớn cho cơ khí Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực năng lượng, đường sắt, giao thông vận tải, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng tàu, nông nghiệp và logistics. Đây là cơ hội quan trọng để nâng cao năng lực doanh nghiệp cơ khí trong nước. Tuy nhiên, cơ hội chỉ chuyển hóa thành kết quả thực chất nếu có chiến lược đúng, cơ chế đủ mạnh và tổ chức thực hiện hiệu quả.

TS. Phan Đăng Phong

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/co-khi-che-tao-tao-don-bay-chinh-sach-day-nhanh-thuc-hien-nghi-quyet-57-457345.html