Có lộ trình cụ thể, bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng cân đối nguồn lực
Thảo luận tại Tổ 4 (Đoàn ĐBQH TP. Huế và các tỉnh Khánh Hòa, Lào Cai), các ĐBQH cho rằng, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam là rất cần thiết. Với một số nội dung thí điểm cần có lộ trình triển khai cụ thể, tránh dàn trải, bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng cân đối nguồn lực.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Hồ Long
Tạo bước chuyển căn bản trong phát triển công nghiệp văn hóa
Cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước.
Dự thảo Nghị quyết có mối liên hệ chặt chẽ với việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035. Do đó, việc ban hành Nghị quyết không chỉ nhằm thiết lập các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho lĩnh vực văn hóa, mà còn cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các chương trình, chính sách hiện hành.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, ĐBQH Phạm Minh Tuấn (Khánh Hòa) nhấn mạnh, văn hóa không chỉ là nền tảng xã hội mà còn là mặt trận quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Về nguồn lực phát triển, Điều 3 dự thảo Nghị quyết quy định, Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hàng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ.

ĐBQH Phạm Minh Tuấn (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) cho rằng, việc quy định tỷ lệ tối thiểu là cần thiết nhưng cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để bảo đảm tỷ lệ này không chỉ là số liệu trên giấy mà thực sự được phân bổ và sử dụng hiệu quả trong thực tiễn.
Cùng với đó, nên quy định rõ về cách tính toán và công khai tỷ lệ chi cho văn hóa; thiết lập cơ chế giám sát độc lập để bảo đảm chi đúng mục tiêu, đúng mục đích. Đại biểu cũng đề xuất liên kết việc chi ngân sách nhà nước cho văn hóa với các chỉ số phát triển bền vững để đánh giá tác động xã hội.
Khẳng định, tại các Điều 4, 5, 6, 7 của dự thảo Nghị quyết đã thể hiện rõ tư duy đổi mới trong phát triển văn hóa và đặc biệt là các chính sách về thu hút nguồn lực đầu tư, ưu đãi tài chính, thuế, đẩy mạnh xã hội hóa hợp tác công tư và phát triển hạ tầng số, dữ liệu văn hóa và công nghiệp văn hóa, đại biểu Phạm Minh Tuấn nêu rõ, các chính sách này nếu được triển khai sẽ tạo bước chuyển căn bản trong phát triển công nghiệp văn hóa và góp phần nâng cao vị thế quốc gia; đồng thời, lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Cho rằng, các ưu đãi về thuế và đất đai tại Điều 4 và Điều 5 là rất tích cực, song, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đề nghị, cần làm rõ tiêu chí để xác định các doanh nghiệp đủ điều kiện được hưởng ưu đãi hay không, qua đó tạo sự minh bạch và tránh tình trạng lợi dụng chính sách để trốn thuế hoặc đầu tư hình thức.

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Nhìn từ góc độ quốc phòng - an ninh, đại biểu Phạm Minh Tuấn cho rằng, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; không tạo ra khoảng trống pháp lý có thể bị lợi dụng, ảnh hưởng đến an ninh văn hóa, an ninh tư tưởng, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước.
Đại biểu Phạm Minh Tuấn cũng đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo xác định rõ tại Điều 9 là cơ quan nào thuộc chính quyền địa phương cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai các giải pháp để phát triển văn hóa tại địa phương. Cùng với đó, cần đặt ra yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ bí mật nhà nước, bởi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ dự thảo Nghị quyết.
Làm rõ khái niệm “đô thị di sản”
Quan tâm đến Điều 5 dự thảo Nghị quyết về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, ĐBQH Tráng A Dương (Lào Cai) cơ bản tán thành chủ trương khuyến khích đầu tư, đặc biệt là quy định thí điểm mô hình đô thị di sản. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị, cần làm rõ khái niệm “đô thị di sản” do hiện nay chưa được quy định trong hệ thống pháp luật.
Việc xác định rõ nội hàm, tiêu chí và phạm vi áp dụng là rất cần thiết, làm cơ sở để thiết kế chính sách ưu đãi phù hợp, bảo đảm minh bạch và khả thi. Đồng thời, cần quy định rõ tiêu chí lựa chọn địa phương thí điểm; nguyên tắc áp dụng ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí; có lộ trình triển khai cụ thể, tránh dàn trải, bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng cân đối nguồn lực.

ĐBQH Tráng A Dương (Lào Cai) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Cơ bản tán thành với các cơ chế, chính sách nhằm bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống tại Điều 6 dự thảo Nghị quyết, song, đại biểu Tráng A Dương cho rằng, quy định tại khoản 1 về “chính sách ưu tiên”, “cơ chế, chính sách đặc thù” hiện vẫn còn mang tính khái quát, chưa đủ rõ để tổ chức thực hiện trên thực tế. Nếu không được cụ thể hóa thì rất khó xác định ưu tiên cái gì, ưu tiên đến đâu và ai chịu trách nhiệm.
Vì vậy, đại biểu Tráng A Dương đề nghị cần làm rõ hơn 3 nhóm nội dung. Một là, xác định rõ nội hàm của chính sách ưu tiên, bao gồm ưu tiên về nguồn lực tài chính, đất đai, không gian văn hóa và chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân.
Hai là, bổ sung chính sách truyền dạy và thực hành nghệ thuật truyền thống, coi đây là giải pháp cốt lõi nhất. Có cơ chế hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy trong cộng đồng, trong trường học; đồng thời khuyến khích các mô hình bảo tồn gắn với phát huy giá trị, đặc biệt là du lịch văn hóa.
Ba là, quy định rõ cơ chế tổ chức thực hiện, theo hướng Nhà nước đặt hàng bảo tồn đối với các loại hình có nguy cơ mai một, giao trách nhiệm cụ thể cho địa phương và có cơ chế kiểm tra, đánh giá. Đối với bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm, đề nghị bổ sung chính sách về bảo vệ, phục chế, số hóa và cơ chế huy động nguồn lực xã hội tham gia bảo tồn.

Các đại biểu dự phiên thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Hồ Long
“Chỉ khi chính sách được thiết kế cụ thể, có địa chỉ, có nguồn lực và có người chịu trách nhiệm, thì công tác bảo tồn văn hóa mới thực sự đi vào cuộc sống”, đại biểu Tráng A Dương nhấn mạnh.











