Công nghiệp văn hóa Việt Nam và khát vọng trở thành điểm đến sáng tạo toàn cầu
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo toàn cầu tăng trưởng mạnh mẽ, công nghiệp văn hóa (CNVH) Việt Nam đứng trước thời điểm chuyển mình. Dù được đánh giá là lĩnh vực có dư địa phát triển lớn, song thực tế cho thấy khoảng cách giữa tiềm năng và thành tựu vẫn còn khá xa. Đâu là nút thắt cần tháo gỡ để CNVH Việt Nam bứt phá, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và xa hơn là một điểm đến văn hóa - sáng tạo toàn cầu?

Ảnh minh họa
Để tiềm năng trở thành "thành tựu bền vững"
Nhìn lại hơn một thập kỷ qua, sự thay đổi trong tư duy phát triển CNVH là yếu tố mang tính nền tảng. Theo TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Phát triển Công nghiệp văn hóa và Nghệ thuật đương đại (Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), việc Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển CNVH năm 2016 đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong nhận thức: Từ chỗ xem văn hóa thuần túy là giá trị tinh thần, sang coi văn hóa là một nguồn lực kinh tế có thể khai thác bền vững.
Thực tế, trong bối cảnh kinh tế sáng tạo toàn cầu tăng trưởng mạnh mẽ, các ngành CNVH ở Việt Nam từ năm 2016 đến nay đã phát triển tiệm cận với tốc độ chung của thế giới, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2018-2022, đóng góp trung bình của CNVH vào giá trị gia tăng đạt gần 3,5%/năm - mức cao hơn tỷ lệ GDP toàn cầu của các ngành văn hóa và sáng tạo do UNESCO công bố năm 2020.
Nhiều lĩnh vực như thủ công mỹ nghệ, phần mềm, trò chơi điện tử, quảng cáo, kiến trúc, du lịch văn hóa… đang có tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Giá trị sản xuất bình quân của các ngành CNVH giai đoạn 2018 -2022 ước đạt hơn 1 triệu tỷ đồng. Riêng năm 2022, giá trị sản xuất của 12 ngành CNVH đạt gần 2 triệu tỷ đồng. Tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa văn hóa trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây, cho thấy CNVH không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà từng bước vươn ra quốc tế.

Show diễn “Vũ điệu trên mây” tái hiện sinh động văn hóa Tây Bắc
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Thu Hà, để tiềm năng trở thành "thành tựu bền vững", CNVH Việt Nam vẫn đang thiếu một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở môi trường chính sách và pháp lý chưa theo kịp sự vận động nhanh chóng của các ngành sáng tạo.
Trong lĩnh vực văn hóa, các doanh nghiệp tư nhân đang phải gánh "nhiệm vụ kép": vừa phát triển kinh tế, vừa thực hiện sứ mệnh xã hội, văn hóa và con người. Họ phải tạo việc làm, thúc đẩy đa dạng biểu đạt văn hóa, khai thác tài nguyên văn hóa địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này lại gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn vốn, khai thác nguồn lực công, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh với các tập đoàn lớn toàn cầu trong môi trường số.
Một vấn đề khác là hệ thống pháp luật chưa thực sự cập nhật với các mô hình sáng tạo mới như truyền thông đa phương tiện, dịch vụ sáng tạo số, AI, NFT hay biểu diễn trực tuyến. Trong khi vòng đời của các sản phẩm sáng tạo ngày càng ngắn, nhiều mã ngành mới vẫn chưa được định danh rõ ràng, khiến doanh nghiệp gặp khó trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Cần có cách tiếp cận mới
Từ thực tiễn đó, TS. Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới trong phát triển CNVH: Chuyển từ tư duy "làm văn hóa" sang tư duy "hỗ trợ văn hóa". Nhà nước không nên đóng vai trò là chủ thể trực tiếp làm thay, mà cần trở thành bên kiến tạo thể chế, cung cấp nguồn lực nền tảng và tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể sáng tạo phát triển. Cần sớm hình thành một cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối các chương trình phát triển CNVH mang tính liên ngành, liên địa phương và hợp tác quốc tế. Cùng với đó là việc tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nghiên cứu thành lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ số trong giám sát và xử lý vi phạm bản quyền.
Một điểm nghẽn khác được TS. Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh là nguồn nhân lực sáng tạo. CNVH chỉ có thể phát triển bền vững khi có đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có tư duy liên ngành, kỹ năng số, hiểu biết về bản quyền và tinh thần đổi mới sáng tạo. Vì vậy, cần xây dựng các chương trình quốc gia về ươm mầm tài năng sáng tạo văn hóa, kết hợp đào tạo trong nước với học bổng, trao đổi quốc tế, thực tập nghề sáng tạo và thu hút chuyên gia nước ngoài. Bên cạnh đào tạo chính quy, việc phát triển các không gian sáng tạo, dự án hợp tác công - tư, sân chơi nghệ thuật và nền tảng số cũng được xem là giải pháp quan trọng để nuôi dưỡng hệ sinh thái sáng tạo năng động.
"Nếu làm tốt công tác điều phối chính sách, hỗ trợ sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kết nối hiệu quả các thành phần trong hệ sinh thái, tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm sáng tạo mới của khu vực, thậm chí là điểm đến văn hóa - sáng tạo toàn cầu trong 10 năm tới", TS. Nguyễn Thị Thu Hà khẳng định.
Vấn đề còn lại là quyết tâm chính sách và khả năng hiện thực hóa khát vọng đó bằng những bước đi cụ thể, đồng bộ và dài hạn. Khi các nút thắt được tháo gỡ, CNVH Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở tiềm năng mà thực sự trở thành "sức mạnh mềm" của quốc gia trong kỷ nguyên mới. "Bài toán" phát triển CNVH vì thế không chỉ là câu chuyện của riêng ngành văn hóa, mà là vấn đề chiến lược gắn với mô hình tăng trưởng, sức cạnh tranh quốc gia và vị thế Việt Nam trên bản đồ sáng tạo thế giới.












