Cụm, khu công nghiệp Hà Nội: Mở không gian sản xuất, tạo động lực phát triển Bài 2: Nhiều rào cản trong tiếp cận mặt bằng sản xuất
Một bên là các cơ sở muốn rời khu dân cư để mở rộng sản xuất, bên kia là mặt bằng đã được đầu tư nhưng chưa được khai thác tương xứng. Bất cập này có nguyên nhân từ chi phí, quy mô diện tích thuê, tiến độ dự án và những vướng mắc quản lý qua nhiều thời kỳ. Làm rõ từng rào cản là cơ sở để việc di dời, đầu tư vào cụm, khu công nghiệp đáp ứng đúng nhu cầu, thay vì chỉ dừng ở tạo thêm quỹ đất.

Nhiều lô đất trong Cụm công nghiệp làng nghề gỗ Văn Tự (xã Phú Xuyên) được xây dựng thành nhà kiên cố. Ảnh: Thiện Mỹ
Chi phí đầu tư vượt khả năng của nhiều cơ sở sản xuất
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình là một trong những thành phần kinh tế quan trọng được Đảng, Nhà nước quan tâm. Để tạo điều kiện cho loại hình này có mặt bằng sản xuất, Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15-3-2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp có quy định, cụm công nghiệp làng nghề có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho việc di dời, mở rộng sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong làng nghề, làng có nghề truyền thống.
Theo định hướng của thành phố Hà Nội, cụm công nghiệp làng nghề nhằm phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất địa phương, góp phần đưa hoạt động sản xuất ra khỏi khu dân cư, song thực tế việc thu hút các cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp chưa được như mong muốn.
Cụm công nghiệp Đông Phú Yên (xã Phú Nghĩa) có quy mô 41,2ha, do Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 765,432 tỷ đồng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật từ năm 2025. Dự án phục vụ di dời, mở rộng sản xuất của các cơ sở sản xuất tại địa phương, giảm ô nhiễm và nguy cơ cháy nổ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khu vực vẫn rào tôn, gần như chưa có doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất nào hoạt động.
Ngay bên kia quốc lộ 6, các cơ sở mộc làng nghề truyền thống Phù Yên (cũng thuộc xã Phú Nghĩa) vẫn sản xuất trong khu dân cư. Ông Nguyễn Hữu Tưởng, người dân làng Phù Yên chia sẻ, nhiều hộ muốn thuê đất, dựng xưởng trong cụm công nghiệp gần làng, nhưng khoản đầu tư vượt khả năng tài chính.
Để làm rõ vấn đề này, phóng viên đã đặt lịch làm việc với UBND xã Phú Nghĩa và chủ đầu tư cụm công nghiệp Đông Phú Yên là Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ nhưng cả hai đơn vị này đều không có thông tin phản hồi.
Trong khi đó, Cụm công nghiệp Cầu Bầu giai đoạn 2 (xã Ứng Thiên), với diện tích 5,29ha đã có 3,19ha đất công nghiệp được cho thuê. Toàn bộ 85/85 thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Song đến nay mới chỉ có 14 cơ sở xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất.
Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Tre Việt Nam Nguyễn Hữu Phong (đơn vị đang đầu tư tại Cụm công nghiệp Cầu Bầu, xã Ứng Thiên) cho biết, riêng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất có giá trị gần 10 tỷ đồng. Để vào cụm phải xác định khoản đầu tư khoảng 20 tỷ đồng. Chi phí này là bài toán lớn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ, phải tích lũy vốn qua từng đơn hàng.
Đặt lên “bàn cân chi phí”, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp (xã Hát Môn) - Công ty cổ phần Đầu tư phát triển nhà Minh Dương nhẩm tính, một lô đất khoảng 1.000m² nếu xây xưởng 3 tầng trên khoảng 70% diện tích, chi phí xây dựng ước tính 14-15 tỷ đồng, chưa có máy móc. Phép tính này cho thấy, nguồn vốn đầu tư phải chuẩn bị có thể lớn hơn nhiều so với khoản tiền thuê mặt bằng ban đầu.
Về nhu cầu sử dụng mặt bằng, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp nêu thực tiễn, nhiều hộ có nhu cầu mặt bằng sản xuất nhỏ hơn 1.000m². Phương án ghép khoảng 3-4 hộ vào một lô sẽ khó vì mỗi hộ có mối hàng riêng, không muốn dùng chung tài sản. Khi cần vay vốn, những người cùng sử dụng chung mặt bằng cũng phải thống nhất và đây là điều không đơn giản.
Dẫn chứng ngay tại cụm công nghiệp của mình, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp chia sẻ, theo khảo sát ban đầu khi xây dựng cụm, gần 80% người đăng ký là hộ làng nghề, nhưng sau khi biết mỗi lô có diện tích tối thiểu 1.000m², thì chỉ những hộ có tiềm lực lớn mới vào thuê đất.
Từ thực tiễn làng nghề của địa phương, Phó Chủ tịch UBND xã Ứng Thiên Nguyễn Anh Tuấn phân tích, người làm nghề chẻ tăm hương, thu mua phế liệu chủ yếu sản xuất quy mô hộ gia đình, tích lũy thấp. Nhiều hộ khó huy động vốn thuê đất, xây nhà xưởng đạt quy chuẩn. Đặc thù mưu sinh này khiến việc đưa cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp cần có giải pháp phù hợp với khả năng chuyển đổi của từng nhóm người làm nghề.
Tại Quyết định số 75/2025/QĐ-UBND, ngày 4-12-2025, của UBND thành phố Hà Nội về ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, quy định diện tích lô đất tối thiểu 2.000m² với cụm công nghiệp thông thường, 1.000m² với cụm công nghiệp làng nghề.
Trong khi đó, theo ý kiến của đại diện các xã Dương Hòa, Tây Phương, nhiều cơ sở có quy mô hộ gia đình, nhu cầu sử dụng nhỏ hơn. Khi phải thuê diện tích lớn hơn nhu cầu, gánh nặng đầu tư ban đầu sẽ tăng lên.
Nhìn nhận ở góc độ giảm chi phí hạ tầng và tăng khả năng tiếp cận cụm công nghiệp, TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội đề xuất, trước hết, cần giảm chi phí ngay từ khâu đầu tư hạ tầng chung và phân bổ lại gánh nặng thanh toán ban đầu. Nên khuyến khích các mô hình nhà xưởng cho thuê, thanh toán theo kỳ và trả chi phí hạ tầng theo tiến độ phù hợp với hợp đồng, điều kiện pháp lý của dự án.
Vướng mắc tích tụ, dự án chậm chuyển động
Ngoài chi phí và quy mô diện tích thuê, việc tiếp cận mặt bằng còn gặp những tồn tại, vướng mắc do việc hình thành, quản lý cụm công nghiệp trải qua nhiều thời kỳ. Nhiều cụm công nghiệp làng nghề được hình thành trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp (tại Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19-8-2009) nên có quy mô nhỏ, hạ tầng không đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất công nghiệp theo quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với cụm công nghiệp hiện hành…
Điển hình như Cụm công nghiệp Phú Túc (xã Phượng Dực) có quy mô 5,94ha do Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng thương mại Phú Minh làm chủ đầu tư được hình thành năm 2022 trên cơ sở đóng góp đất ruộng của 30 hộ dân. Khi đi vào hoạt động, cụm xuất hiện công trình kiên cố có hình thức như nhà ở, biệt thự, một số nhà xưởng sử dụng sai mục đích; đồng thời còn vướng hợp đồng thuê đất đối với 28 hộ sản xuất, kinh doanh.
Đề cập đến những tồn tại kéo dài tại Cụm công nghiệp Phú Túc, Trưởng phòng Kinh tế xã Phượng Dực Nguyễn Tiến Đạt thông tin, địa phương đã kiểm tra, làm việc với các đơn vị liên quan về công tác quản lý quy hoạch, đất đai, trật tự xây dựng và bảo vệ môi trường tại cụm, đồng thời yêu cầu khắc phục những nội dung còn tồn tại theo quy định. Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm vẫn cần phải có thời gian...
Trong khi đó, tiến độ khắc phục sai phạm tại những cụm công nghiệp đã có kết luận thanh tra cũng chưa đạt yêu cầu. Theo Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Phú Xuyên Nguyễn Văn Hữu, tại Cụm công nghiệp làng nghề gỗ Văn Tự, địa phương đã xử lý 21/27 trường hợp vi phạm, các trường hợp khác còn chờ phương án. Tại xã Dương Hòa, Phó Trưởng phòng Kinh tế Ngô Xuân Biển nêu rõ, hồ sơ bàn giao từ trước chưa rõ ràng nên địa phương phải tiếp tục rà soát tổng thể các tồn tại ở Cụm công nghiệp Dương Liễu giai đoạn 1. Đơn vị tiếp nhận đang lập kế hoạch xử lý những hạng mục theo kết luận thanh tra.
Ngoài những tồn tại trong quản lý, tác động từ đồ án quy hoạch cũng khiến một số dự án chậm triển khai. Điển hình như Cụm công nghiệp làng nghề Vân Từ (xã Chuyên Mỹ) có quy mô 7ha, được khởi công tháng 6-2025 nhưng đến nay vẫn là đất trống. Đại diện Phòng Kinh tế xã Chuyên Mỹ lý giải, dự án nhiều lần điều chỉnh chủ trương đầu tư và hiện nay đang vướng quy hoạch đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam nên chưa xác định được thời điểm đưa cụm vào hoạt động.
Với thực tế này, TS Mạc Quốc Anh lưu ý, bảo vệ doanh nghiệp phải gắn với bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp, không phải bảo vệ vi phạm. Đồng thời, siết chặt kỷ cương phải đi cùng một lộ trình rõ ràng để doanh nghiệp khắc phục, chuyển đổi và tiếp tục sản xuất đúng pháp luật. Hai yêu cầu này không mâu thuẫn nếu chính sách và quá trình thực hiện được thiết kế đầy đủ. Đối với những vi phạm cụ thể, cần căn cứ hồ sơ, kết luận và quyết định của cơ quan có thẩm quyền để có giải pháp xử lý. Không nên từ một số hiện tượng mà quy kết toàn bộ doanh nghiệp trong một cụm công nghiệp, cũng không thể chỉ dựa vào lý do tồn tại lâu năm để mặc nhiên coi việc sử dụng đất, xây dựng hoặc sản xuất là hợp pháp.
Từ những rào cản đã được nhận diện, yêu cầu đặt ra là cần hỗ trợ đúng nhu cầu, xử lý những vướng mắc tồn đọng và chuẩn bị điều kiện để mở đường cho doanh nghiệp, hộ sản xuất tại các làng nghề tiếp cận mặt bằng sản xuất phù hợp và hiệu quả.
(Còn nữa)

