Cùng đi thỉnh kinh, vì sao Trư Bát Giới không thành Phật?
'Mọi người đều thành Phật, tại sao chỉ mỗi mình con là Tịnh Đàn Sứ giả?' - Trư Bát Giới làu bàu với Như Lai khi kết thúc hành trình thỉnh kinh.
Kết thúc hành trình đi Tây Trúc thỉnh kinh, công đức viên mãn, Đường Tăng được Phật Tổ Như Lai phong làm Chiên Đàn Công Đức Phật, Tôn Ngộ Không được phong Đấu Chiến Thắng Phật, Sa Tăng không đạt quả vị Phật nhưng cũng là Bát Bảo Kim Thân La hán Bồ tát.
Duy có Trư Bát Giới chỉ được làm Tịnh Đàn Sứ giả - chức vụ phụ trách việc dọn dẹp và hưởng các vật phẩm cúng dường (xôi chè, trái cây...) chay tịnh trên các bàn thờ (đàn).
Trước sự "bất công" này, Bát Giới kháng nghị ngay với Như Lai: "Mọi người đều thành Phật, tại sao chỉ mỗi mình con là Tịnh Đàn Sứ giả?". Đến khi nghe Như Lại nói đó là "chức phẩm được ăn uống", Bát Giới liền vui vẻ nhận phong thưởng.
Tuy nhiên, nhiều độc giả sẽ thắc mắc, dù cùng Tôn Ngộ Không, Sa Ngộ Tĩnh tháp tùng Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh nhưng cuối cùng vì sao chức vụ của Bát Giới lại thấp nhất?

Cùng Tôn Ngộ Không, Sa Ngộ Tĩnh tháp tùng Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh nhưng cuối cùng, chức vụ của Bát Giới lại thấp nhất.
Chúng ta cùng xét về thân phận, xuất phát điểm của các nhân vật trước khi bước vào con đường thỉnh kinh cũng như quá trình họ hoàn thiện bản thân mình. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, đệ tử thứ hai của Phật Tổ Như Lai. Do không nghe giảng kinh, ngủ quên đá rơi hạt giống, ông bị phạt đầu thai xuống trần gian, trải qua 10 kiếp tu hành gian khổ mới được đi thỉnh kinh. Kiếp cuối, ông là Trần Huyền Trang, một nhà sư hiền lành, kiên định.
Ở kiếp thứ 10, dù chỉ là một nhà sư "người trần mắt thịt" nhưng Huyền Trang quyết sang Tây Trúc thỉnh kinh. Khi từ biệt hoàng đế Đại Đường, ông thể hiện quyết tâm: “Chuyến đi này, thần xin cố gắng quên mình, đến tận Thiên Trúc. Nếu không sang tới nơi, không thỉnh được chân kinh, thần xin chết, không dám trở về nước, mãi mãi chịu đắm chìm nơi địa ngục”.
Khi các đồ đệ khuyên ông nên cân nhắc lại quyết định của mình vì "phương Tây xa lắm, lại nhiều hổ báo yêu ma, chỉ sợ có đi không có về, khó bảo toàn tính mạng", Đường Tăng nói: "Ta đã phát lời nguyền, nếu không thỉnh được chân kinh thì đắm chìm vào địa ngục mãi mãi".
Ông cũng dặn các đồ đệ: "Sau khi ta đi rồi, hoặc hai ba năm, hoặc dặm bảy năm, nếu thấy những cành tùng trước cửa hướng về phía Đông, là ta về đấy. Bằng không là vĩnh viễn không trở lại”.
Khi ông mới bắt đầu chặng đường thỉnh kinh, còn chưa vượt khỏi biên giới Đại Đường, dừng chân ở chùa Pháp Môn, dưới ánh đèn, các sư ngồi trò chuyện về đường đi thỉnh kinh "người nói đường xa thăm thẳm, đường lắm hùm beo; kẻ nói non cao vách dựng khó qua, nước độc ma thiêng khó vượt", Tam Tạng chỉ ngồi im không nói, lấy tay chỉ vào tim, gật đầu mấy cái.
Các nhà sư không hiểu ý, chắp tay hỏi: "Pháp sư chỉ tay vào tim, gật đầu mấy cái nghĩa là thế nào?". Tam Tạng đáp: "Tâm sinh thì ma quỷ đều sinh. Tâm diệt thì ma quỷ cũng diệt. Ở chùa Hóa Sinh, trước bàn thờ Phật tôi đã nguyện rồi, đâu có dám không hết lòng. Chuyến đi này, tôi quyết sang đến tận phương Tây, lễ Phật cầu kinh, để bánh xe đạo pháp của chúng ta chuyển vận, để non sông của đức vua vững bền mãi mãi”.
Như vậy, so với các đồ đệ của mình, ở kiếp thứ 10, Đường Tăng tuy chỉ là người trần mắt thịt, không có bất cứ phép biến hóa thần thông nào nhưng có trái tim thuần khiết, ý chí sắt đá dành cho việc tu luyện, quyết dâng cả cuộc đời mình cho con đường tu tập.
Sau này, dù trải qua bao kiếp nạn, Đường Tăng cũng chưa từng dao động hay thay đổi mục tiêu ban đầu. Chính vì thế, cuối cùng ông được phong làm Chiên Đàn Công Đức Phật - vị trí tôn vinh đạo hạnh và tâm tính thanh tịnh.

Đường Tăng kiên định với con đường tu tập.
Còn Sa Tăng cũng vốn là: "Người trần mắt thịt, hạng phàm phu. Vì sợ luân hồi nên đi tìm đạo, ngao du nơi góc biển, phóng đãng chốn chân trời, thường được y bát tùy thân, luôn luyện tâm thần tự tại. Bởi chứng có lòng thành nên gặp được bạn tiên, âm dương di dưỡng, công phu đủ ba nghìn, hợp hòa đủ bốn tướng, siêu thăng lên thượng giới, lạy đức Ngọc Hoàng, được phong chức Quyển Liêm đại tướng, đứng hầu bên kiệu phượng xe loan, lại được phong hiệu tướng quân.
Tuy nhiên, trong hội Bàn Đào ta lỡ tay đánh vỡ chiếc chén bằng ngọc lưu ly, bị Thượng Đế đày xuống sông Lưu Sa, thay hình đổi dạng, gây ác hại người. May gặp đức Bồ tát viễn du cỡi sông, khuyên quy y, ngày ngày đợi phật tử triều Đường sang Tây bái Phật cầu kinh".
Như vậy, Sa Tăng tuy là người thường nhưng không cần ai khuyên giải, mà tự ngộ ra cái khổ luân hồi nên quyết chí vân du đi tìm đạo. Rồi trong suốt hành trình đi thỉnh kinh, Sa Tăng cũng kiên trì, lầm lũi hộ tống Đường Tam Tạng, không kêu ca, không đòi bỏ cuộc nên sau này được Như Lai phong làm Bát Bảo Kim Thân La hán Bồ tát. Đây là chức vụ tượng trưng cho sự cống hiến thầm lặng, không hay phàn nàn và sự tu hành bền bỉ của Sa Tăng.

Sa Tăng vốn là người trần mắt thịt nhưng sớm tự ngộ đạo.
Tôn Ngộ Không, có thể nói là nhân vật có xuất thân kỳ bí nhất Tây du ký. Con khỉ này do một tảng đá tiên hấp thụ linh khí của trời đất và tinh hoa của nhật nguyệt mà sinh ra, theo cách nói của Bồ Đề Lão Tổ thì là “Trời đất sinh ra”. Khối đá này có ngay sau khi bàn cổ khai thiên tích địa. Nói cách khác, nguyên thần của Tôn Ngộ Không được sinh ra từ hỗn độn vũ trụ cho nên nhân vật này cũng là một tiên thiên thánh nhân bất tử bất diệt.
Với xuất thân không hề tầm thường, tư chất thông minh, biết biến hóa khôn lường, Tôn Ngộ Không từng náo loạn tam giới, không sợ bất cứ ai. Thậm chí khi phát hiện ra Quan Âm Bồ tát là người đưa cho Đường Tăng vòng kim cô để khống chế mình, hắn còn dọa "đợi ta sang tận Nam Hải, nện cho mụ ta một trận", chứng tỏ cái tâm hung hãn, ngông cuồng.
Tuy nhiên, trong suốt quá trình thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không đều một lòng một dạ bảo vệ Đường Tam Tạng, chưa bao giờ thấy khó mà từ, thấy nguy mà chạy. Đó cũng là hành trình Ngộ Không vứt bỏ tự ngã ngoan cố và kiêu ngạo, tiêu trừ nghiệp chướng, tịnh hóa thân tâm.
Hoàn tất quá trình thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không được phong Đấu Chiến Thắng Phật với ý nghĩa không phải là thắng người khác trong các cuộc chiến, mà là chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng những "ma tính" và tư tâm bên trong. Ngộ Không trở thành đại diện cho cái Tâm. Khi Tâm còn loạn (đại náo thiên cung) thì gây họa, nhưng khi Tâm đã định và được rèn luyện qua thử thách, nó trở thành sức mạnh bảo vệ lẽ phải.

Trư Bát Giới chỉ được phong Tịnh Đàn Sứ Giả.
Giống Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới có xuất thân không hề tầm thường. Hắn vốn là Thiên Bồng Nguyên soái, chỉ huy hơn 8 vạn thủy binh, sở hữu 36 phép Thiên cang, là bộ phép thuật cao cấp giúp biến hóa, đảo lộn đất trời và điều khiển vạn vật. Dù nguyên tác Tây du ký ít mô tả chi tiết nhưng đây là bộ phép mạnh tương đương, thậm chí cao cấp hơn 72 phép Địa sát của Tôn Ngộ Không về tính chất "tạo hóa".
Trong hội Bàn Đào, sẵn có chút men say trong người, Trư Bát Giới buông lời chọc ghẹo Hằng Nga khiến Ngọc Hoàng nổi giận và đày xuống hạ giới. Trư Bát Giới bị Ngộ Không thu phục, và bị Quan Thế Âm chỉ định đi theo phò tá Đường Tăng để chuộc lại lỗi lầm đã gây ra.
Tuy vậy, hắn chưa bao giờ hết lòng hết dạ với việc thỉnh kinh. Trong hồi thứ 19 mang tên Động Vân Sạn, Ngộ Không thu Bát Giới/ Núi Phù Đồ, Tam Tạng nhận tâm kinh, khi sửa soạn cùng sư phụ và đại sư huynh lên đường sang Tây, Bát Giới còn dặn dò bố vợ đôi điều: "Con gửi lời chào nhạc mẫu và mọi người thân thích trong nhà. Hôm nay con đi làm hòa thượng không kịp chào hỏi tạm biệt, xin đừng trách cứ. Về phần nhạc phụ, con mong nhạc phụ trông nom vợ con chu đáo. Nếu công việc lấy kinh không thành, con sẽ hoàn tục về đây, lại làm con rể của nhạc phụ và sinh sống như trước".
Bị Ngộ Không mắng là hồ đồ, Trư Bát Giới giải thích: "Không phải hồ đồ đâu. Chỉ sợ nhất thời lỡ xảy ra điều gì thì hỏng cả việc làm hòa thượng, hỏng cả việc lấy vợ, xôi hỏng bỏng không thì sao?”.
Chính vì không toàn tâm toàn ý cho việc tu luyện nên dọc đường cứ gặp cảnh cùng khốn, Bát Giới lại nản lòng, bàn lùi, muốn chia hành lý để quay lại cuộc sống phàm tục.
Bên cạnh đó, hai chữ "Bát Giới" có nghĩa là "tám ranh giới bị kiềm chế" (tám điều răn). Tuy nhiên, lão Trư thường xuyên vi phạm các giới luật này như tham ăn, tham ngủ, ham sắc và sợ gian khổ. So với Tôn Ngộ Không, Sa Tăng luôn dốc lòng bảo vệ sư phụ, Bát Giới thường ỷ lại, hay ghen tị với Ngộ Không và đôi khi còn gây chia rẽ trong đoàn.
Do đó, việc phong cho Bát Giới chức Tịnh Đàn Sứ giả (người dọn dẹp các lễ vật sau khi cúng tế) được xem là sự an bài phù hợp nhất của Phật Tổ, vừa giúp Bát Giới được hưởng phúc báo "ăn no" đúng như mong muốn, vừa phù hợp với trình độ tu luyện thực tế của nhân vật này.
Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/cung-di-thinh-kinh-vi-sao-tru-bat-gioi-khong-thanh-phat-ar1013861.html











