Cuộc khủng hoảng lòng tham và lời giải từ kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon

Kinh tế tuần hoàn khởi nguồn từ triết lý tuần hoàn tự nhiên, cùng với tín chỉ carbon, trở thành giải pháp cốt lõi cho sự sống còn của nhân loại trước khủng hoảng.

TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE)

TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE)

Nhiều năm công tác trong lĩnh vực kinh tế, tài chính và phát triển bền vững, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, nhìn nhận khái niệm kinh tế tuần hoàn dưới một lăng kính đặc biệt.

Không chỉ là giải pháp kinh tế giúp bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn bắt nguồn từ quy luật tuần hoàn bất biến của vũ trụ, với bản chất là sự thấu hiểu và tôn trọng thiên nhiên.

Từ lăng kính đó, việc xây dựng thị trường tín chỉ carbon và thực hành giải pháp kinh tế tuần hoàn không chỉ giải quyết nút thắt kinh tế - môi trường mà còn tìm về bản chất của tự nhiên, giải pháp tìm kiếm cơ hội cho nhân loại trong bối cảnh khủng hoảng đa chiều.

Cuộc khủng hoảng từ lòng tham và sự đứt gãy quy luật tự nhiên

Theo ông Nghĩa, thiên nhiên vốn là một thể thống nhất hoàn hảo, nơi muôn loài nương tựa vào nhau để sinh tồn và phát triển. Quy luật tuần hoàn là quy luật tối thượng của vũ trụ, nơi sự sinh diệt của loài này tạo tiền đề cho sự sống của loài khác, và chất thải của cá thể này lại là dưỡng chất thiết yếu cho cá thể kia.

Mọi thứ trong tự nhiên đều có vị trí và ý nghĩa riêng, tạo nên một vòng lặp vĩnh cửu không có khái niệm dư thừa hay lãng phí.

Tuy nhiên, tư duy tăng trưởng bất chấp, mặt trái của nền kinh tế thị trường và kinh tế tư bản lại đi ngược hoàn toàn với quy luật khắt khe nhưng đầy bao dung đó. Nền kinh tế vận hành dựa trên chủ nghĩa cá nhân, coi con người là trung tâm của vũ trụ và biến mọi thứ trong tự nhiên thành hàng hóa để trao đổi.

Thước đo của sự thành công và cội nguồn của hạnh phúc bị định nghĩa sai lệch, hoàn toàn bị thống trị bởi đồng tiền và lòng tham vô đáy. Chính lòng tham tột độ này đã thôi thúc con người khai thác, tàn phá thiên nhiên để phục vụ cho lối sống tiêu dùng ngày càng xa hoa, từ những nhu cầu cơ bản tiến tới những tiêu chuẩn xa xỉ và siêu xa xỉ.

Hệ lụy của sự đứt gãy quy luật tự nhiên này vô cùng tàn khốc và nhân loại đang phải trả giá mỗi ngày. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh hoành hành và thiên tai dị thường chính là sự phản kháng, sự "trả đũa" của thiên nhiên trước sự "ngạo mạn" của con người.

Đáng lo ngại hơn, ông Nghĩa chỉ ra một hệ quả thứ hai mang tính hủy hoại là sự cạnh tranh và giành giật tài nguyên thiên nhiên giữa chính con người với con người. Để bảo vệ sự sung sướng và phồn vinh của mình, các quốc gia lao vào cuộc chạy đua vũ trang, tạo ra những kho vũ khí khổng lồ, đặc biệt là vũ khí hạt nhân với sức mạnh có thể hủy diệt toàn bộ nhân loại gấp nhiều lần.

“Con người không chỉ làm cho thiên nhiên ghét bỏ mình, mà còn biến đồng loại thành kẻ thù kình địch”, ông Nghĩa nói tại Tọa đàm Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon – giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn do Viện CODE tổ chức.

Bước vào kỷ nguyên số, sự trỗi dậy của công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo (AI) tưởng chừng sẽ mang lại giải pháp nhưng thực chất lại đang làm trầm trọng thêm hai quá trình khủng hoảng nêu trên.

Mức độ tiêu thụ năng lượng khủng khiếp của các hệ thống công nghệ mới kéo theo rủi ro cạn kiệt tài nguyên nhanh hơn, đẩy biến đổi khí hậu và nguy cơ xung đột địa chính trị lên những nấc thang khốc liệt mới.

Tần suất xuất hiện của thiên tai, sự lây lan của các loại vi khuẩn mang mầm bệnh lạ từ rừng sâu ra cộng đồng và nguy cơ bùng nổ chiến tranh đang ngày càng dày đặc.

Để thoát khỏi vòng lặp diệt vong này, ông Nghĩa nhấn mạnh rằng loài người không có con đường nào khác ngoài việc quay trở lại, sống thuận theo quy luật tuần hoàn của tự nhiên.

Càng tôn trọng thiên nhiên, con người càng phải biết tiết kiệm tài nguyên. Để tiết kiệm tài nguyên, mỗi cá nhân cần hướng tới một lối sống "giản tiện", cũng chính là triết lý của mô hình kinh tế tuần hoàn.

Khi nhu cầu tiêu dùng vật chất giảm xuống, áp lực lên môi trường sẽ vơi đi, lòng tham giành giật tài nguyên cũng nguội lạnh, từ đó xóa bỏ đi nhu cầu sở hữu vũ khí giết người hàng loạt.

Rừng và bài toán tín chỉ carbon

Chiếu theo triết lý thuận tự nhiên đó, ông Nghĩa phân tích, rừng chính là minh chứng sống động nhất của quy luật tuần hoàn tự nhiên, nơi có sự tương tác hữu cơ và mật thiết giữa con người với cây cối, đất đai, nguồn nước và toàn bộ hệ sinh thái đa dạng xung quanh.

Nhìn lại quá khứ, tư duy quản lý rừng đã trải qua những giai đoạn đầy sai lầm. Đã từng có thời kỳ, rừng chỉ được nhìn nhận như một mỏ tài nguyên gỗ khổng lồ để khai thác vô tội vạ.

Đã từng có thời kỳ, rừng chỉ được nhìn nhận như một mỏ tài nguyên gỗ khổng lồ để khai thác vô tội vạ. Ảnh: Hoàng Anh.

Đã từng có thời kỳ, rừng chỉ được nhìn nhận như một mỏ tài nguyên gỗ khổng lồ để khai thác vô tội vạ. Ảnh: Hoàng Anh.

Các lâm trường quốc doanh được giao những chỉ tiêu cứng nhắc, mỗi năm phải đốn hạ hàng chục nghìn khối gỗ để phục vụ kinh tế. Khi nguồn tài nguyên cạn kiệt và hậu quả môi trường hiện rõ, chính sách buộc phải xoay trục sang đóng cửa rừng tự nhiên.

Tuy nhiên, việc đóng cửa rừng lại vấp phải một rào cản cực kỳ lớn là bài toán sinh kế của hàng triệu hộ dân sống dựa vào tán rừng. Để giải quyết áp lực sống còn này, các khu vực đồi núi dần bị bao phủ bởi rừng trồng ngắn ngày như keo, tràm.

Dù mang lại thu nhập trước mắt, nhưng loại rừng này thực chất chỉ là những rẫy nông nghiệp trên cao, nghèo nàn về đa dạng sinh học và không thể gánh vác vai trò bảo vệ hệ sinh thái, giữ đất, giữ nước như rừng tự nhiên.

Hậu quả là đến nay, diện tích rừng tự nhiên mang tính chất rừng đầu nguồn của Việt Nam còn lại rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng hơn một nửa diện tích, phần còn lại là rừng trồng kinh tế và đồi núi trọc.

Ông Nghĩa khẳng định, trong bối cảnh hiện tại, tư duy về rừng bắt buộc phải thay đổi tận gốc. Rừng không còn đơn thuần là gỗ, cũng không chỉ đơn giản là công cụ giải quyết sinh kế ngắn hạn cho người nông dân.

Rừng là mạch máu duy trì sự tồn tại của toàn bộ thiên nhiên và sự sống còn của chính loài người. Do đó, việc phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là các giống cây bản địa, phải được đặt ở vị trí trung tâm.

Quá trình này đòi hỏi một chiến lược chuyển đổi khéo léo, thiết lập được mối quan hệ lợi ích chặt chẽ giữa cộng đồng người nông dân và nhiệm vụ phát triển rừng bền vững.

Thay vì cấm đoán cực đoan, cần có lộ trình tăng dần diện tích rừng tự nhiên bản địa và giảm dần diện tích rừng trồng keo, tràm theo một tỷ lệ nhất định hàng năm, đảm bảo sinh kế không bị đứt gãy.

Để hiện thực hóa lộ trình phục hồi rừng tự nhiên, theo ông Nghĩa, bài toán cốt lõi là làm sao để người dân sống được, thậm chí sống tốt nhờ vào việc bảo vệ những thân cây bản địa mà không cần phải đốn hạ chúng.

Tín chỉ carbon chính là lời giải chiến lược nhất. Nguồn thu từ thị trường tín chỉ carbon phải trở thành khoản thu nhập quan trọng hàng đầu, tạo động lực vật chất to lớn cho những người trực tiếp ngày đêm giữ rừng.

Ông Nghĩa cũng phác thảo một tầm nhìn mang tính đột phá khi kết hợp công nghệ hiện đại vào quản lý tự nhiên, nơi trí tuệ nhân tạo (AI) và các phần mềm tiên tiến sẽ được ứng dụng để lập bản đồ, tính toán và theo dõi khối lượng carbon hấp thụ đến từng cây riêng biệt.

Từ đó, mỗi tín chỉ đều minh bạch, công sức của lâm dân được ghi nhận và đền đáp xứng đáng.

Phạm Sơn

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/cuoc-khung-hoang-long-tham-va-loi-giai-tu-kinh-te-tuan-hoan-tin-chi-carbon-d45336.html