Đà Nẵng: 12 căn cứ mới, phản ánh dấu tích liên kết ba ngôi mộ cổ ở Tam Kỳ có quan hệ mộ vợ chồng

Tại buổi làm việc với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng chiều 26/6/2026, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng khẳng định không thể đảo ngược lịch sử, cũng không thể bỏ qua hoàn cảnh lịch sử liên quan đến gia đình, thân thế của nữ sĩ Hồ Xuân Hương - danh nhân văn hóa thế giới.

Bà là vợ thiếp của Tham hiệp Trần Phúc Hiển. Ông Hiển là tử tù của triều Nguyễn thời Gia Long vì tội nhận hối lộ 700 quan tiền, bị xử giảo vào tháng 9 âm lịch năm 1819.

Mộ Giày Thầy Lánh đặt trước phần mộ tổ họ Trần làng Tam Kỳ (Đà Nẵng).

Ngoài những hình ảnh đã trình chiếu, bà Hằng chứng minh 12 căn cứ mới.

Ngoài những hình ảnh đã trình chiếu, bà Hằng đưa ra 12 căn cứ mới.

1. Xã hội phong kiến không cho phép xây dựng lăng mộ khang trang cho tử tù. Do đó, mộ tử tù Trần Phúc Hiển phải thay tên, đổi họ.

2. Soi chiếu bia mộ Giày không ghi tên chính danh, năm mất, quê quán, tước phẩm của tử tù. Điều này cho thấy người nằm dưới mộ Giày có thân phận đang muốn che giấu, mai danh ẩn tích. Còn báo cáo của Bảo tàng Quảng Nam cho rằng trên bia mộ Giày có đầy đủ tên người, quê quán, năm mất, tuổi thọ và tước phẩm là thông tin chưa chuẩn.

3. Xác định Nguyễn Văn Phúng quê ở Diêm Điềm xã, chính là quê hương của tử tù Trần Phúc Hiển và ông Phúng chỉ có thể là người anh trai trưởng của tử tù, đổi sang họ Nguyễn, mới đứng ra xây dựng lăng mộ Giày cho người em trai là tử tù đổi tên thành Nguyễn Đức Lánh. Theo phong tục truyền thống và văn hóa tâm linh của người Việt Nam, người đứng tên lập bia mộ phải là anh em, con cháu hoặc người có quan hệ huyết thống, hôn nhân trong gia tộc, không phải là người ngoài.

4. Mộ của tử tù Trần Phúc Hiển không chôn cất trong vườn nhà ông Hiển cùng với mộ vợ cả và vợ thiếp tại phường An Sơn, mà thay tên đổi họ thành Nguyễn Đức Lánh, nằm dưới lăng mộ Giày ở phường Hòa Hương (cách gần 2 km), nhằm tránh họa tịch biên và san phẳng mồ mả. Bởi dưới thời nhà Nguyễn (đặc biệt là triều Gia Long và Minh Mạng), tử tù phạm tội nghiêm trọng (như án tham nhũng, nhận hối lộ) thường đi kèm hình phạt tịch thu toàn bộ gia sản, điền địa. Nếu chôn cất tử tù Phúc Hiển ngay trong đất vườn nhà, khi triều đình đến tịch thu đất đai hoặc lục soát, ngôi mộ chắc chắn sẽ bị phát hiện, bị đào lên và san phẳng để xóa sạch dấu vết.

Mặt khác, việc không chôn tử tù trong vườn nhà là để bảo vệ người sống được an yên, tránh bị quan quân dòm ngó.

5. Việc xây mộ tử tù Trần Phúc Hiển trên đất gia tộc, cạnh mộ Tiền hiền họ Trần là một sự sắp đặt tinh tế, thể hiện đạo lý "lá rụng về cội", nhưng được thực hiện bằng phương pháp bề ngoài che giấu việc đổi họ tên, bề trong giữ vững gốc gác. Dù tử tù Trần Phúc Hiển bị triều đình tước bỏ danh phận, ép phải mang họ Nguyễn Đức trên bia đá, nhưng khi đặt bộ xương cốt nằm xuống cạnh phần đất tổ tiên và mộ Tiền hiền họ Trần là đã ngầm cáo tội và xin tổ tiên chứng giám: "Dù thể xác mang họ khác để lừa dối quan quân, nhưng linh hồn và máu mủ của người nằm xuống vẫn là con cháu dòng tộc họ Trần". Đất họ Trần sẽ không bao giờ bị người ngoài chiếm đoạt hay đào xới tùy tiện.

6. Tại khu phố 8, đường Nguyễn Xuân Vân, thuộc phường An Sơn (TP Tam Kỳ cũ) có hai ngôi mộ cổ trong khu vườn của ông Nguyễn Văn Thu. Theo ông Thu (84 tuổi) và bà Nguyễn Thị Hạnh (81 tuổi), là em gái ông Thu, đây là đất của tổ tiên bên nội để lại đã sáu đời. Đây là đất hồi môn của cụ cố họ Huỳnh khi đi lấy chồng được cha mẹ cho mảnh vườn này.

Trên hiện trường mảnh đất của cụ cố sáu đời nhà ông Thu có hai ngôi mộ cổ: mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (nghi là dấu tích mộ Hồ Xuân Hương) và mộ 1856 Phan Thị (trên bia mộ ghi là vợ cả). Theo phong tục chôn người thân trong vườn nhà của địa phương, mộ 1856 Phan Thị được xác định là mộ của con dâu cả cụ họ Huỳnh, còn mộ 1850 phía trong vườn cũng được xác định là người nhà của cụ họ Huỳnh nhưng chưa rõ danh tính.

7. Trên thực địa, mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị là hai lăng mộ riêng biệt, không phải lăng mộ vợ chồng. Hai lăng mộ này khẳng định hai người nằm dưới mộ có địa vị như nhau, chỉ khác nhau về ngôi thứ trong gia đình. Nếu soi chiếu theo phong thủy chôn cất "tiền thê, hậu thiếp" thì mộ 1856, mặc dù được xây dựng sau sáu năm, nhưng ở vị trí phía ngoài gần đường, là mộ của người vợ cả, điều này bia mộ đã ghi rõ "nguyên phối" (vợ cả). Còn mộ 1850 ở phía trong vườn, theo phong thủy chôn cất, là lăng mộ của người vợ thiếp.

8. Mặc dù địa phương TP Đà Nẵng chưa khai quật lại mộ 1850 để làm khảo cổ, có kết quả khoa học chứng minh xương cốt trong mộ này có phải là mộ cải táng từ miền Bắc đưa vào hay không; đồng thời giám định carbon đối với xương cốt người nằm dưới mộ để xác định là nam hay nữ, chết trẻ hay chết già. Tuy nhiên, vụ đào trộm mộ 1850 vào 8 giờ sáng ngày 6/3/2012 được coi là lần khai quật đầu tiên đối với ngôi mộ này. Hiện trạng xương cốt trong mộ đã nói lên sự thật qua lời kể của nhân chứng duy nhất là ông Nguyễn Văn Thạnh.

Ngày 6/1/2023, luật sư, Đại tá, điều tra viên cao cấp Bộ Công an Nguyễn Huy Hoàng, thành viên của nhóm nghiên cứu độc lập, đã có báo cáo với lãnh đạo UBND TP Tam Kỳ về việc ông được Công an khu vực đưa đến gặp ông Nguyễn Văn Thạnh, người ở khu phố 8, phường An Sơn.

Ông Thạnh là người được bà Thắm thuê đào trộm mộ 1850, kể lại: "Khi cạy nắp phần mộ (mộ xây có nắp bằng phiến đá liền, quách bằng gỗ nhỏ đã nát), trộm nhặt xương trắng xốp, xương sạch và dời nhau, vứt lên bờ mộ. Khi thấy phần hộp sọ cạnh có chiếc tráp nhỏ, những người thuê đào trộm mộ kêu công an tới và bảo những người đào mộ chạy đi, còn nhóm trộm mộ lấy chiếc tráp và một số cổ vật lên xe ô tô chạy khỏi hiện trường. Sau đó, chính quyền đến thuê tôi nhặt lại xương cốt người nằm dưới mộ 1850 cho vào tiểu gỗ nhỏ đem đi chôn. Đây là việc đào trộm mộ lấy cổ vật chứ không phải cải táng hay tắm rửa xương cốt."

Qua lời kể của ông Thạnh, người duy nhất nhìn thấy và trực tiếp nhặt xương cốt người nằm dưới mộ 1850 để chôn cất lại, PGS.TS. Nguyễn Lân Cường, chuyên gia hàng đầu về nhân cổ học, Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, nhận định đây là mộ cải táng từ miền Bắc đưa vào; người nằm dưới mộ 1850 là phụ nữ bởi đồ tùy táng là chiếc tráp nhỏ đựng nữ trang chôn theo. Đây là căn cứ hiện trường duy nhất nhóm nghiên cứu có được, còn cơ quan Bảo tàng Quảng Nam không có căn cứ này.

Được biết, vụ đào trộm mộ cổ đã được Công an lập biên bản hiện trạng ngày 7/3/2012. Luật sư Nguyễn Huy Hoàng đã làm việc với ông Quang, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Tam Kỳ, và điều tra viên Nam để đề nghị cung cấp hồ sơ vụ án đào trộm mộ. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến nay, cơ quan Công an vẫn chưa hồi âm.

9. Về hiện trạng xương cốt mộ 1850 qua lời kể của nhân chứng Nguyễn Văn Thạnh, đây là hài cốt của một người phụ nữ. Do đó, hiếu tử Văn Dục không phải là con của người phụ nữ nằm dưới mộ 1850. Người phụ nữ nằm dưới mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân cũng không phải là vợ của cụ Phan Thị ở mộ 1856 như báo cáo của Bảo tàng Quảng Nam. Theo minh văn trên bia mộ 1850, người nằm dưới mộ chết trẻ, phù hợp với giả thiết Hồ Xuân Hương qua đời ở tuổi 49.

10. Mộ 1850 là mộ ẩn danh, bởi Huỳnh Hoàn Nhân không phải là tên một cá nhân. Chiết tự chữ Hán, chữ không phải danh từ riêng chỉ tên người mà là danh từ chung chỉ con người. Cụm từ Hoàn nhân (完人) trong từ điển tiếng Trung Quốc có nghĩa là một con người hoàn mỹ, mẫu mực, có đạo đức và học vấn trọn vẹn, không tì vết. Khi đứng cùng họ Huỳnh, cụm từ này có thể hiểu là "Người họ Huỳnh hoàn mỹ". Trong khi đó, Bảo tàng Quảng Nam dịch là cụ Huỳnh Hoàn Nhân là chưa đúng. Mộ 1850 thiếu các thông tin về tên chính danh, năm mất, tuổi thọ và quê quán của người nằm dưới mộ, trong khi Bảo tàng Quảng Nam lại báo cáo ngôi mộ có đầy đủ họ tên, quê quán, năm mất và tuổi thọ. Theo nhóm nghiên cứu, đây là báo cáo chưa đúng.

11. Ông Trần Sài được xác định là người đưa di cốt Hồ Xuân Hương về Quảng Nam. Căn cứ theo chính sử và các sắc phong của ông Trần Sài (gia tộc họ Trần ở thôn Quý Ngọc) còn lưu giữ được, phù hợp với thời gian ông là Ngoại trưởng Thủy binh của triều đình, đi xa giá đức vua ra Bắc Thành năm 1842 nên được thưởng công vào tháng 7/1843, thăng chức Chánh đội trưởng Đội 6, Vệ 2, Hữu doanh Kinh kỳ Thủy sư.

Tháng 10/1843, có thể ông được cử ra Thanh Hóa đưa hải thuyền về Phú Xuân. Lần này ông đi công cán một mình. Với cương vị là người chỉ huy, ông có điều kiện kết hợp việc riêng của gia tộc họ Trần, đưa di cốt của nữ sĩ về quê chồng.

Việc ông Trần Sài đưa hải thuyền của tỉnh Thanh Hóa về kinh thành Phú Xuân cũng phù hợp với công trạng của ông khi ngày 13/11/1843 được thăng cấp từ Chánh đội trưởng lên Thí sai Chánh đội trưởng Đội 6, Vệ 2, lực lượng Thủy sư Kinh kỳ.

Theo pháp lý và phong tục thời phong kiến, việc người không cùng họ hàng di dời phần mộ là không được phép. Do đó, việc ông Trần Sài đưa hài cốt Hồ Xuân Hương về quê chồng được cho là phù hợp vì ông gọi nữ sĩ là thím.

Căn cứ trên bia mộ 1850 ghi rõ "Đệ tam lang", nghĩa là người nằm dưới mộ là vợ của người con trai thứ ba trong gia đình. Căn cứ này cho thấy ông Trần Phúc Hiển là người em trai thứ ba; người anh cả đã chuyển sang họ Nguyễn là Nguyễn Văn Phúng, xây dựng bia mộ Giày cho em trai là tử tù Trần Phúc Hiển. Còn người anh thứ hai của ông Hiển vẫn mang họ Trần, nên có căn cứ xác nhận Trần Sài là cháu ruột của ông Hiển, từ đó có trọng trách đưa hài cốt nữ sĩ, là vợ thiếp của ông Hiển, về quê chồng ở Tam Kỳ.

12. Bình phong tiền mộ 1856 Phan Thị chôn trong khu đất vườn nhà ông Phúc Hiển có khắc chân dung lồng ghép hình ảnh một người đàn ông có dây thắt cổ, một người phụ nữ trẻ và một người phụ nữ già, cùng với hình đắp nổi chiếc bình đựng hai chiếc đũa và một chiếc thìa, tượng trưng cho hai người vợ và người chồng trong một gia đình. Đây là căn cứ khẳng định hình ảnh vợ chồng tử tù Trần Phúc Hiển, vợ thiếp Hồ Xuân Hương và vợ cả Phan Thị.

PGS.TS. Nguyễn Lân Cường (người cầm máy quay phim, bên phải) tại thực địa mộ 1850, tháng 1/2023

PGS.TS. Nguyễn Lân Cường (người cầm máy quay phim, bên phải) tại thực địa mộ 1850, tháng 1/2023

Sau buổi báo cáo của nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng, ngày 30/6/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng đã ký Thông báo số 874/TB-SVHTTDL, với nội dung ghi nhận tâm huyết của nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng cùng nhóm nghiên cứu đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản trên địa bàn TP Đà Nẵng.

Công an phường An Sơn, tỉnh Quảng Nam cũ, nay là Đà Nẵng, đưa nhóm nghiên cứu đến nhà gặp nhân chứng Nguyễn Văn Thạnh tháng 1/2023.

Tuy nhiên, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, Sở chưa có cơ sở để tiếp nhận các nội dung nghiên cứu nêu trên. Sở đề nghị bà Nghiêm Thị Hằng chủ động phối hợp với các cơ quan nghiên cứu chuyên môn để thực hiện nghiên cứu, thẩm định, phản biện khoa học theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ.

Như vậy, hành trình nghiên cứu của bà Nghiêm Thị Hằng và các cộng sự được chuyển sang Sở Khoa học và Công nghệ TP Đà Nẵng để tiếp tục thực hiện các bước nghiên cứu, thẩm định và phản biện khoa học theo quy định.

(Hết)

Trần Thị Thực

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/da-nang-12-can-cu-moi-phan-anh-dau-tich-lien-ket-ba-ngoi-mo-co-o-tam-ky-co-quan-he-mo-vo-chong-a33992.html