Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh): Đề nghị mở rộng đối tượng được hỗ trợ tiếp cận thông tin
Sáng 12/4, Quốc hội khóa XVI tiếp tục kỳ họp thứ Nhất, thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) và Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh) nhất trí cần sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp và khắc phục các hạn chế sau hơn 7 năm thực hiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà phát biểu tại hội trường.
Để góp phần hoàn thiện hơn dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục mở rộng chủ thể được hỗ trợ tiếp cận thông tin và bổ sung chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận thông tin thuận lợi, kịp thời và đầy đủ nhất.
Cụ thể, khoản 1 Điều 3 dự thảo quy định “người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. So với quy định của Luật hiện hành, khoản 1 Điều 3 được sửa đổi theo hướng đã mở rộng thêm một số chủ thể được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Đại biểu nhất trí với cao với việc mở rộng bổ sung các chủ thể này; đồng thời đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát, bổ sung một số đối tượng yếu thế khác cũng được áp dụng các quy định đặc thù trong tiếp cận thông tin như người nghèo, trẻ em, người có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của mua bán người… nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân cần được hỗ trợ.
Khoản 3 Điều 3 quy định Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tộc thiểu số và người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng thời quy định việc cung cấp thông tin chủ yếu trên môi trường số.
Hiện nay, tại các vùng cao, hạ tầng mạng và thiết bị số mặc dù đã được quan tâm đầu tư song vẫn còn nhiều hạn chế do đó việc triển khai cung cấp thông tin trên môi trường số gặp nhiều khó khăn. Nếu chỉ quy định như dự thảo có thể dẫn đến việc công nghệ lại là rào cản tiếp cận thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Do đó, cần cụ thể hóa hơn việc Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi bằng cách tiếp tục duy trì hình thức phi kỹ thuật số, đơn cử như hệ thống truyền thanh cơ sở, niêm yết tại điểm sinh hoạt cộng đồng (như quy định tại khoản 2 Điều 21), cho phép linh hoạt giữa các hình thức cung cấp trực tuyến và trực tiếp và bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc địa phương.
Khoản 2 Điều 24 dự thảo quy định về phiếu yêu cầu cung cấp thông tin phải được thể hiện bằng tiếng Việt, quy định này có thể là trở ngại đối với những đồng bào dân tộc thiểu số chưa thành thạo chữ phổ thông. Do đó, đề nghị bổ sung quy định đối với người dân tộc thiểu số tại vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu bằng tiếng phổ thông hoặc bằng tiếng dân tộc.
Đối với việc hướng dẫn, giải thích và giúp đỡ tại khoản 2 Điều 27 cũng cần nghiên cứu bổ sung quy định có sự tham gia của người có uy tín, trưởng thôn, trưởng bản, trưởng buôn hoặc cán bộ biết tiếng dân tộc để hỗ trợ đồng bào điền phiếu thông tin.
Đồng thời, về quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin tại Điều 8 dự thảo cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung quyền của công dân là được hướng dẫn, thông báo tiến độ, kết quả xử lý cung cấp thông tin của cơ quan, đơn vị cho công dân vì trong thực tiễn, nhất là đối với người dân ở vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số ít sử dụng tiếng phổ thông, người cao tuổi rất cần có quyền này.
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục cần làm rõ hơn thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. Điều 15 dự thảo quy định có 6 nhóm thông tin công dân không được tiếp cận và Điều 16 dự thảo quy định 4 nhóm thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. So với Luật Tiếp cận thông tin hiện hành thì dự thảo quy định nêu trên tiếp tục kế thừa các quy định còn phù hợp.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát các thông tin công dân không được tiếp cận và các thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện bảo đảm thống nhất với các luật mới được ban hành và bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, phù hợp với yêu cầu, chủ trương của Đảng về tăng cường kiểm soát quyền lực, đẩy mạnh công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Dự thảo Luật quy định công dân không được tiếp cận thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước là phù hợp. Tuy nhiên, với quy định công dân không được tiếp cận “thông tin về cuộc họp nội bộ cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ”, “thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác” – cho thấy đây là những quy định mang tính định tính và có thể sẽ gây khó khăn cho công dân trong việc thực hiện quyền được tiếp cận thông tin.
Do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, rà soát để quy định rõ hơn trong Luật này hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết, giao Bộ Tư pháp hướng dẫn nội hàm của những quy định nêu trên đẻ bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực thi và để tránh bị lạm dụng để không cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật vẫn còn có quy định thể hiện đặt việc cung cấp thông tin phụ thuộc vào điều kiện và khả năng thực tế của cơ quan, đơn vị cho thấy dự thảo quy định trên phương diện chuyển từ quyền của người dân sang khả năng đáp ứng của cơ quan Nhà nước. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ dễ áp dụng tùy nghi, có thể làm giảm tính bảo đảm quyền hiến định.
Do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, rà soát quy định tại các khoản 1 Điều 19, khoản 4 Điều 23, khoản 2 Điều 24, khoản 5 Điều 27 theo hướng thể hiện và khẳng định rõ nguyên tắc quyền tiếp cận thông tin là mặc định, cơ quan nhà nước có nghĩa vụ thực hiện, chỉ được từ chối trong trường hợp do pháp luật quy định cụ thể; đồng thời quy định chế tài xử lý đủ mạnh trong trường hợp cơ quan không cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin theo yêu cầu của người cung cấp theo quy định.










