Đại học doanh thu nghìn tỉ đồng vẫn như 'kiềng 1 chân'
Trường đại học (ĐH) tại Việt Nam có doanh thu nghìn tỉ đồng mỗi năm đều bổ sung những gương mặt mới. Tuy nhiên, dù số trường tăng nhưng bản chất của khối doanh thu nghìn tỉ đồng này vẫn không thay đổi, phần lớn đến từ nguồn thu học phí.
Ðiểm danh đại học nghìn tỉ đồng
Các đại học, trường đại học nghìn tỉ đồng gồm: FPT, Văn Lang, Kinh tế TPHCM, Nguyễn Tất Thành, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế quốc dân, Tôn Đức Thắng, Công nghệ TPHCM, Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM), Cần Thơ, Công nghiệp TPHCM, Y Dược TPHCM, Công nghệ kỹ thuật TPHCM, Công nghiệp Hà Nội và Trà Vinh.
Trong số này có hai gương mặt mới nổi là ĐH Trà Vinh và Đại học Công nghiệp Hà Nội. Đặc biệt, Trường ĐH Trà Vinh (tỉnh Vĩnh Long) là trường duy nhất không nằm trên địa bàn các thành phố trực thuộc trung ương. Có 8/15 trường doanh thu nghìn tỉ đồng ở TPHCM, 3 trường tại Hà Nội, 1 trường ở Cần Thơ. Riêng Trường ĐH FPT có phân hiệu ở rất nhiều tỉnh thành.

Thí sinh trải nghiệm khoa học công nghệ tại ngày hội tuyển sinh. Ảnh: Dương Triều
Trường đại học FPT có doanh thu đạt hơn 4.300 tỉ đồng, kế đến là Văn Lang hơn 2.600 tỉ đồng, bỏ xa các trường còn lại. Ngoài các trường ĐH tư thục, các trường công lập đạt doanh thu nghìn tỉ đồng đều là các trường tự chủ.
Trong 5 năm qua, doanh thu của trường có tăng, giảm nhưng đa số tăng dần đều trong 4 năm gần đây. Trong đó năm 2023, doanh thu tăng nhiều nhất so với năm liền trước. Những năm sau doanh thu tăng nhưng chỉ vài chục tỉ đồng mỗi năm. Cũng như nhiều đại học nghìn tỉ đồng khác, cơ cấu doanh thu của trường chủ yếu đến từ học phí, chiếm từ 70% - 90%.
ĐH Công nghiệp Hà Nội có tổng doanh thu là trên 1.067 tỉ đồng, trong đó doanh thu từ học phí lên tới hơn 886 tỉ đồng (chiếm 83%). Số còn lại đến từ hợp đồng, tài trợ từ ngân sách nhà nước. Dù thu từ khoa học công nghệ năm 2025 còn khiêm tốn, nhưng tăng đáng kể so với năm 2024. Năm 2024 thu từ khoa học công nghệ chỉ hơn 29 tỉ đồng, năm 2025 đã lên hơn 62,6 tỉ đồng.
Tương tự, ĐH Trà Vinh đạt doanh thu 1.101 tỉ đồng. Nhưng nguồn thu chủ yếu của ĐH này đến từ học phí, với 1.016 tỉ đồng (chiếm trên 92%). Doanh thu khoa học công nghệ chỉ đạt 5,1% (65 tỉ đồng) nhưng đã tăng gấp 5 lần năm 2024 (12 tỉ đồng).
Dù những con số nghìn tỉ đồng gây ấn tượng, cơ cấu nguồn thu cho thấy một thực tế ít thay đổi: học phí vẫn chiếm tỉ trọng áp đảo. Tại ĐH FPT, học phí chiếm tới trên 90% tổng thu, khoảng trên 80% đối với ĐH Bách khoa Hà Nội. Ở hầu hết các trường khác, tỉ lệ này dao động từ 70 đến 80%.
Một điều đáng nói là các trường thuộc nhóm doanh thu nghìn tỉ đồng có quy mô đào tạo lớn. Quy mô đang đào tạo của ĐH Công nghiệp Hà Nội là trên 35.000 sinh viên; Trường ĐH Văn Lang đang đào tạo trên 52.000 sinh viên; Đại học Kinh tế Quốc dân có quy mô đào tạo khoảng gần 50.000 sinh viên; Trường ĐH Tôn Đức Thắng đang đào tạo khoảng trên 26.000 sinh viên; với nhiều cơ sở đào tạo, Trường ĐH FPT đang đào tạo cũng đạt con số gần 50.000 sinh viên.
Riêng Trường ĐH Y Dược TPHCM có quy mô đào tạo chỉ khoảng trên dưới 15.000 sinh viên, quy mô thấp nhất trong các trường doanh thu nghìn tỉ đồng.
Vòng luẩn quẩn
Sự phụ thuộc quá lớn vào học phí đồng nghĩa với việc gánh nặng tài chính dồn lên vai sinh viên và gia đình trong bối cảnh thu nhập bình quân đầu người chưa cao. Điều này trở thành rào cản trong việc tiếp cận giáo dục đại học của nhiều người trẻ, nhất là tự chủ ĐH như hiện nay.
Như vậy, chỉ tiêu tuyển sinh càng nhiều thì nguồn thu càng lớn. Lãnh đạo một ĐH lớn đã ví von, đồng thời cảnh báo rằng, các trường ĐH đang tự “ăn thịt chính mình” khi đầu tư quá nhiều sức lực để mở rộng quy mô đào tạo nhằm lấy tiền.
Ở nhiều quốc gia phát triển, hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đóng góp tới 30% - 50% tổng thu nhập của các trường ĐH. Ngược lại tại Việt Nam, không ít trường đạt doanh thu hàng nghìn tỉ đồng nhưng tiền thu từ nghiên cứu chỉ vỏn vẹn vài chục tỉ đồng.
“Đừng bắt nhà nghiên cứu đi làm thầu. Nhà nước cần sớm tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục để các nhà khoa học thực sự được rảnh tay sáng tạo và chấp nhận rủi ro trong thử nghiệm”. TS Nguyễn Phan Kiên (ĐH Bách khoa Hà Nội)
Thực trạng này phản ánh một thực tế đáng lo ngại, các cơ sở giáo dục ĐH của Việt Nam đang vận hành như một chiếc “kiềng một chân” khi nguồn sống gần như phụ thuộc hoàn toàn vào học phí.
Việc phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất tạo ra những hệ lụy trực tiếp đến người học và xã hội. Để duy trì bộ máy và tái đầu tư cơ sở vật chất, giải pháp dễ nhất của các trường là tăng học phí.
Để tối đa hóa doanh thu, nhà trường dễ rơi vào cái bẫy mở rộng chỉ tiêu, hạ chuẩn đầu vào hoặc tập trung mở các ngành "hot" dễ tuyển sinh mà bỏ qua các ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật mũi nhọn - những ngành vốn tốn kém chi phí đầu tư nhưng rất cần cho đất nước. Giảng viên phải gánh giờ dạy dày đặc để tối ưu chi phí, khiến họ không còn thời gian lẫn năng lượng cho nghiên cứu chuyên sâu.
Tại sao nghiên cứu chưa 'đẻ' ra tiền?
Các chuyên gia chỉ ra hai “nút thắt” lớn khiến nghiên cứu khoa học trong trường đại học chưa thể thương mại hóa.
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường nên khó bán được cho doanh nghiệp. Thứ hai, thiếu các cơ chế rõ ràng về định giá tài sản trí tuệ, phân chia lợi nhuận và mô hình hợp tác công - tư để biến sản phẩm phòng thí nghiệm thành hàng hóa trên thị trường.
Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã và đang tạo ra bước ngoặt cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Một trong những điểm được giới nghiên cứu chờ đợi là cơ chế khoán chi, trao quyền tự chủ lớn hơn cho nhà khoa học. Nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ hay dịch vụ tri thức vẫn còn rất khiêm tốn.
Ngoại lệ hiếm hoi là ĐH Kinh tế TPHCM, tỉ lệ này đạt 27,6%, cao nhất trong cả nước. Một số trường khác có mức 6 đến 10%, song đa phần gần như không đáng kể.
TS Nguyễn Phan Kiên (ĐH Bách khoa Hà Nội) nhận định, Nghị quyết 57 đã thổi “luồng gió mới”, khuyến khích nhà khoa học mạnh dạn đưa nghiên cứu ra thị trường thay vì cất ngăn kéo hay chọn giải pháp an toàn. Tuy nhiên, rào cản tài chính và thủ tục đấu thầu lạc hậu.
Sinh viên nghiên cứu khoa học. Ảnh minh họa
Nghịch lí lớn nhất hiện nay là nhà khoa học sợ rủi ro tài chính hơn thất bại chuyên môn. Bản chất của nghiên cứu là tạo ra cái mới, dẫn đến chi phí thử nghiệm thường cao hơn sản phẩm sẵn có. Thế nhưng, cơ chế quản lí cũ lại bắt nhà nghiên cứu giải trình chi tiết theo định mức thông thường, khiến họ luôn lo ngại bị quy trách nhiệm.
Thay vì tập trung sáng tạo, các nhà nghiên cứu đang bị đẩy vào vai trò chuyên gia đấu thầu bất đắc dĩ khi phải tốn quá nhiều thời gian làm hồ sơ, lập kế hoạch mua sắm và xử lí thủ tục hành chính.
Sự cứng nhắc của quy trình còn thể hiện ở việc chỉ cần thay đổi một linh kiện hay con ốc vít nằm ngoài danh mục thầu, nhà khoa học cũng phải làm lại từ đầu toàn bộ quy trình phê duyệt. Đã đến lúc quản lí nghiên cứu không thể tiếp tục theo cách kiểm soát quá chặt đầu vào hay soi từng hóa đơn.
Hoa Ban













![[Video] Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn chi tiết phương án thi lại ở chuyên Tuyên Quang](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_07_14_55779638/3212c4788f33666d3f22.jpg)
