Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Trọn cuộc đời vì nước, vì dân

Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng có truyền thống yêu nước nồng nàn và rất thông minh. Lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc đã sản sinh ra những người anh hùng làm rạng rỡ non sông đất nước.

“Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại oanh liệt nhất trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam" - Đó là lời khẳng định của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã viết nên những chiến công hiển hách, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong chặng đường lịch sử oai hùng ấy, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã hiến dâng tất cả đời mình cho Đảng, cho Dân, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng đến toàn thắng.

“Việt Nam - Hồ Chí Minh" trở thành nguồn cảm hứng lớn, cổ vũ và soi sáng con đường đấu tranh của các dân tộc bị áp bức trên thế giới với niềm tin tất thắng: Một dân tộc dù nhỏ bé, kinh tế lạc hậu, vũ khí trang bị thô sơ, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của một Đảng cách mạng chân chính kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên quyết đứng lên đấu tranh, nhất định sẽ viết nên trang sử vẻ vang của chính mình.

Ăngghen từng viết: “Lịch sử không làm gì cả...”(1). Đúng vậy. Những chuyện quá khứ, những vĩ nhân trong lịch sử sống và hành động không phải để được sử sách ghi danh, hậu thế tôn vinh. Đơn giản. Họ hành động theo lương thức vì mọi người, vì trách nhiệm đối với quốc gia - dân tộc, tuyệt nhiên không màng danh lợi. Chính tấm lòng sắt son vì Nước, vì Dân, tận hiến vì đại nghiệp khiến họ trở thành bất tử, được muôn đời con cháu noi theo.

Thế hệ chúng tôi sinh ra trong bối cảnh miền Bắc ra sức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho miền Nam và cả dân tộc kiên cường bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tựa như nấc thang giữa hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trong thế kỷ XX, ký ức của tôi về ba, về những người đồng chí của ông trong những năm tháng chiến tranh cách mạng cũng như trong thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ đất nước còn in đậm.

Đến nay, đã có khá nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học và tác phẩm về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi xin nhấn mạnh ba phần chính:

Một là, tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp

Nội dung này có sức cuốn hút lớn đối với nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Với tư cách là một người con của Đại tướng, Tổng Tư lệnh, tôi nhận thấy:

Truyền thống quê hương và gia đình, nền tảng ban đầu luôn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự trưởng thành của mỗi cá nhân. Làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn An Xá, xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị), nơi có dòng sông Kiến Giang, một vùng đất nghèo của miền Trung là quê hương của Đại tướng. Tự bao đời nay, người dân nơi đây phải đương đầu với thiên tai, địch họa, nên sớm hình thành truyền thống nhân ái, cần cù trong lao động, đoàn kết, anh dũng và bất khuất trong đấu tranh.

Ba tôi xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, được sự dạy dỗ nghiêm khắc của thân phụ Võ Quang Nghiêm và tình yêu quê hương, đất nước được truyền lại trong câu hò, lời ru, chuyện kể của thân mẫu Nguyễn Thị Kiên. Trước cảnh đất nước lầm than dưới ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến, từ sớm, cụ thân sinh đã dạy cậu học trò nhỏ: Chỉ có con đường học, học để hiểu rõ kẻ thù đặng mới có thể cứu nước, cứu nhà.

Cả gia đình tập trung mọi điều kiện để ba tôi được đến trường; sau khi học chữ với cụ thân sinh và trọ học ở huyện Lệ Thủy; thi đỗ vào Trường Quốc học Huế.

Tại ngôi trường danh tiếng nhất Đông Dương, được gặp các nhà cách mạng và những bạn cùng chí hướng, ba tôi tích cực tham gia phong trào đấu tranh của học sinh Huế, tiêu biểu là: Phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và Phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh.

16 tuổi, ba tôi là một trong những học sinh Trường Quốc học Huế tổ chức bãi khóa chống lại chính sách hà khắc của nhà cầm quyền và trong mắt họ: “Giáp là phần tử học giỏi chống chế độ”; do đó, bị đuổi học và cấm đi học trên toàn cõi Đông Dương. Mẹ tôi từng chia sẻ: “Anh Giáp không có tuổi thơ vô tư lự như những học trò cùng trang lứa và không được sống cùng gia đình từ rất sớm”.

Năm 1927, ba tôi tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), là Ủy viên Trung ương dự bị. Tháng 9-1930, ba tôi bị thực dân Pháp bắt giam trong vụ cứu tế Nghệ An Đỏ ở Nhà in báo Tiếng dân. Ra tù, ba tôi tham gia hoạt động phong trào Mặt trận Dân chủ, trong ban lãnh đạo nửa hợp pháp của Đảng; là Chủ tịch Hội Báo chí Bắc Kỳ, tổ chức các tờ báo Tiến Bộ, Tiếng nói của chúng ta...

Khi đó, một câu hỏi lớn đặt ra: Tại sao một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm từng chiến thắng những thế lực phong kiến hùng mạnh phương Bắc và chính đội quân đông đảo của triều đình nhà Nguyễn dựa vào thành trì vững chắc lại thất bại trước quân đội phương Tây?

Mang trong mình nhiệt huyết cứu nước, cứu nhà, ba tôi cũng như những nhà cách mạng ái quốc lúc bấy giờ, gác lại tất cả những gì riêng tư, quyết chí giải đáp câu hỏi của thời đại; hòa mình vào thực tiễn tranh đấu cách mạng; không ngừng nghiên cứu lịch sử chống xâm lăng của dân tộc, nghệ thuật quân sự trong nước và nước ngoài.

Tháng 6-1940, nhận nhiệm vụ sang Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp chia tay vợ Nguyễn Thị Quang Thái. Không ngờ, đây lại là lần tiễn biệt sau cùng của hai người. Bước ngoặt cuộc đời đã đến khi ba tôi gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Thúy Hồ (thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) và được Người tin tưởng giao phụ trách quân sự.

Từ năm 1941 đến năm 1945, ba tôi hoạt động trên vùng Cao - Bắc - Lạng, xây dựng các cơ sở cách mạng, mở đường Nam tiến - con đường cách mạng trong lòng nhân dân các dân tộc - gây dựng và nối thông khu căn cứ cách mạng Cao - Bắc - Lạng - Thái - Hà - Tuyên.

Ba tôi đã cùng với các đồng chí của mình tổ chức phát triển 19 đội xung phong Nam tiến; tham gia tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ chính trị, quân sự. Từ những lớp đầu tiên đó, trong các khu rừng, hang đá, đã đào tạo được nhiều cán bộ chính trị, quân sự cho Đảng, cho cách mạng chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp báo cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ (6-12-1953). Ảnh: TLLSQS

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp báo cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ (6-12-1953). Ảnh: TLLSQS

Ngày 22-12-1944, thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thực hiện phương châm chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến; “công tác chính trị là linh hồn của quân đội cách mạng”(2), ba tôi cùng các đồng chí của mình đã tổ chức, lập kế hoạch tiêu diệt đồn Phai Khắt và Nà Ngần, mở ra truyền thống “Đánh thắng trận đầu” của Quân đội ta.

Tiếp đó, kinh qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, rồi hai cuộc trường chinh trong 30 năm ròng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, sau cùng là thời kỳ bảo vệ và xây dựng đất nước, có thể thấy: Ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, tư tưởng Hồ Chí Minh “Dĩ công vi thượng”, “Người trước, súng sau” luôn là ngọn nguồn sức mạnh, là chuẩn mực trong nhận thức và hành động của Đại tướng, Tổng Tư lệnh.

Ba tôi đã kiên định thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh trung thành nhất, triệt để nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Trong thực tiễn, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng định hình tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp. Ba tôi đã vận dụng sáng tạo, thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh, với các quyết định lịch sử trong các trận quyết chiến chiến lược, tiêu biểu là Chiến dịch Điện Biên Phủ và Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đường lối chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân và nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh mà Đại tướng luôn quán triệt và thực thi nghiêm cẩn, chính xác chỉ thị của Hồ Chủ tịch, đó là vấn đề bảo đảm nguyên tắc “Đánh chắc thắng”, “Đánh thắng trận đầu”, “Càng đánh càng mạnh”.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, nguyên tắc “Đánh chắc thắng” được Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận vận dụng kiên định, sáng tạo và hiệu quả trước sự biến hóa của thực tiễn chiến trường; trên cơ sở nắm chắc những thông tin về địch, về ta, được quân báo trinh sát và các đơn vị cập nhật phân tích chi tiết từng ngày, từng giờ. Nhạy bén phát hiện sự thay đổi tình thế, bảo đảm chiến thắng với tổn thất xương máu thấp nhất cho quân và dân ta, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân, Tổng Tư lệnh kiên quyết chuyển phương châm từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc”.

Sự sáng suốt trong quyết định lịch sử này đã được khẳng định bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Điểm đáng chú ý ở đây, chân lý - quyết định chuyển phương châm tác chiến - đã không thuộc về số đông mà thuộc về thiểu số, thuộc về người chỉ huy cao nhất tại mặt trận. Sau này, Đại tướng viết trong hồi ký: “Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”. Không thay đổi phương châm tác chiến là có tội với nhân dân và bộ đội.

Việt Nam đất không rộng, người không đông, bị phong kiến, thực dân áp bức bóc lột nặng nề, kinh tế nghèo nàn, vũ khí trang bị kém hiện đại, phải đương đầu với đội quân xâm lược hùng mạnh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng là trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ đánh tiêu hao tiến lên đánh tiêu diệt lớn.

Đó là quá trình vừa đánh vừa học hỏi rút kinh nghiệm, xây dựng lực lượng, không ngừng tích lũy về lượng để tiến lên phát triển về chất, bảo đảm càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng lớn. Đây chính là nét độc đáo của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Tuân theo quy luật đó, tiệm tiến từng bước, nắm bắt đúng thực tiễn vận động khách quan, chớp đúng thời cơ chiến lược tiến công thì chắc thắng. Ngược lại, chủ quan, khinh suất, nóng vội, duy ý chí, muốn đốt cháy giai đoạn để giành thắng lợi nhanh thì tổn thất, hy sinh, cách mạng lâm vào thế hiểm nghèo, khó khăn là điều khó tránh.

Nguyên tắc bảo đảm “Đánh chắc thắng”, tiết kiệm thấp nhất hy sinh xương máu của bộ đội và nhân dân, làm cho vốn của kháng chiến - thế và lực, sức người và sức của không ngừng phát triển là điều mà Đại tướng luôn luôn trăn trở trước mỗi quyết định.

Đặc biệt, trong gần 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nguyên tắc “Đánh chắc thắng” được ba tôi nhấn mạnh hơn bao giờ hết. Kẻ thù của dân tộc ta là đế quốc Mỹ - siêu cường đứng đầu thế giới tư bản chủ nghĩa, nắm trong tay sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, vũ khí trang bị, lại có lực lượng quân đội tay sai hùng hậu và hệ thống căn cứ quân sự trải khắp thế giới.

Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại ở trung tâm điểm của lịch sử loài người khi dũng cảm đương đầu với thử thách thời đại mang tên: Chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Kiên định tư tưởng tiến công, đánh địch bằng mưu kế, thắng địch bằng thế thời, trên cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng đã cùng với tập thể Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước “dám đánh, biết đánh, quyết đánh và quyết thắng Mỹ” ngay từ trận đầu.

Từ Ấp Bắc, Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đến Đường 9 Nam Lào, “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (12-1972) và Đại thắng mùa Xuân 1975, đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là cả một quá trình liên tục không ngừng thế tiến công, đánh thắng địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tạo thế và lực hơn hẳn địch tiến lên chớp thời cơ chiến lược thần tốc giành toàn thắng.

Trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do sự cộng hưởng tác động khách quan và chủ quan tạo ra, nguyên tắc “Đánh chắc thắng”, tiết kiệm xương máu của bộ đội và nhân dân không phải dễ dàng đạt được sự thống nhất hoàn toàn. Trái lại, điều đó đã trải qua sự khảo nghiệm trong thực tiễn chiến đấu ác liệt, sự hy sinh to lớn của quân, dân ta và được tái khẳng định giá trị là nguyên tắc bất biến trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Đó cũng là biểu hiện tư tưởng “Người trước, súng sau”.

Đại tướng luôn xác định con người là nhân tố quyết định thắng lợi chiến tranh và quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Nhưng, nước ta nhỏ, dân ta ít, phải làm sao đánh thắng Mỹ - ngụy với tổn thất hy sinh thấp nhất để sau chiến tranh còn đủ nhân lực bảo vệ và dựng xây đất nước. Tôi cho rằng, đây là điểm rất quan trọng khi nghiên cứu tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Hai là, bám sát thực tiễn, nhạy bén phát hiện quy luật và hành động đúng quy luật, chúng ta sẽ đi đến thắng lợi

Đây là bài học kinh nghiệm được Đại tướng, Tổng Tư lệnh đúc kết từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, sự vận động của thực tiễn xã hội là không ngừng. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với các nhà chỉ huy quân sự, các nhà hoạch định chiến lược phải bám sát thực tiễn, nhạy bén phân tích, đánh giá đúng và kịp thời xu thế phát triển của tình hình để đưa quyết định tối ưu, bảo đảm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ với tổn thất thấp nhất. Vấn đề này, ba tôi thường nhắc đến quyết định khó khăn nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đảm nhận trọng trách Bác Hồ giao phó, là người chỉ huy cao nhất, đường lối, chiến lược, nguyên tắc và kỷ luật Đảng luôn được Đại tướng, Tổng Tư lệnh giữ vững và bảo đảm thực hiện nghiêm từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch đến từng chiến sĩ. Nhưng, khi nắm chắc sự thay đổi của thực tiễn tình hình địch, ta, Đại tướng không lấy quyền uy cá nhân để áp đặt, mà lấy nguyên tắc dân chủ quân sự làm đầu, thẳng thắn đặt vấn đề: “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” có bảo đảm 100% thắng lợi không? Câu hỏi đó không ai dám khẳng định. Đã không bảo đảm chắc thắng thì phải chuẩn bị lại, phải chuyển sang thực hiện phương châm “Đánh chắc tiến chắc”.

Song, quyết định chiến lược đó chưa phải đến đấy là kết thúc. Nó còn tùy thuộc vào sự biến hóa trong thực tiễn chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường. Thực tiễn khách quan quyết định phương châm chỉ đạo tác chiến chiến lược.

Sau Đợt 2 chiến dịch, phương châm “Đánh chắc tiến chắc” đã chứng minh tính hiệu quả bằng các chiến thắng giòn giã trong các trận đánh, nhưng bước vào Đợt 3, xuất hiện vấn đề tiếp tục phương châm “Đánh chắc tiến chắc” hay phải tranh thủ thế và lực của ta, sự khó khăn và khủng hoảng tinh thần của địch để tốc chiến tốc thắng?

Đến đây, nhiều người sẽ biết, đó là sự xuất hiện của vấn đề chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực. Một lần nữa, dựa vào việc bám sát thực tiễn chiến trường, đánh giá đúng tình hình địch, ta và sự khủng hoảng trầm trọng về tinh thần chiến đấu của địch, chủ nghĩa thất bại lan rộng trong hàng ngũ quân Pháp, Đại tướng quán triệt yêu cầu mọi hành động lúc này phải lấy yếu tố “nhanh” làm đầu, phải “Đánh nhanh thắng nhanh” kết thúc chiến dịch và tránh hao tổn sức người, sức của. Kết quả, Đợt 3, kết thúc thắng lợi - Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Bắt đầu chiến dịch, ta đã chuyển phương châm từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc” và sau cùng lại chuyển từ “Đánh chắc tiến chắc” sang “Đánh nhanh thắng nhanh”(3). Đây là sự vận động chuyển hóa rất nhanh chóng của thế trận và Chỉ huy chiến dịch đã nhạy bén phát hiện, nắm bắt kịp thời đưa ra quyết định chiến lược đúng đắn.

Điều đặc biệt cần phải nhấn mạnh ở đây đó là, trước thời khắc quyết định trong trận quyết chiến chiến lược, từ Chiến dịch Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, dường như có sợi dây vô hình nối liền quá khứ với thực tại trong tiềm thức và tư tưởng của Đại tướng, từ nghệ thuật dụng binh thần tốc của Quang Trung - Nguyễn Huệ đến ý chí “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn...” của Bác Hồ... tất cả đều hướng đến quyết định chỉ đạo chiến lược là phải “Thần tốc, thần tốc hơn nữa”, “tốc chiến tốc thắng”, “thời gian là lực lượng” và “mọi sự chậm trễ lúc này là có tội với nhân dân”.

Sự am hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc, truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông, không ngừng đúc rút kinh nghiệm, học hỏi từ thực tiễn chiến đấu trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa quân sự thế giới, kết hợp với bám sát thực tiễn, nhạy bén phát hiện quy luật vận động của tình thế, hành động theo quy luật nên Đại tướng đã đưa ra những quyết định chỉ đạo chiến lược kịp thời, chính xác, giành thắng lợi nhanh nhất với tổn thất thấp nhất.

Nhận thức rõ vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu được câu trả lời của Đại tướng, Tổng Tư lệnh trước câu hỏi của phóng viên nước ngoài: “Trong cuộc đời chỉ huy của mình, chiến lược quân sự của Tổng Tư lệnh là gì?”; Đại tướng: “Chiến lược hòa bình”.

Việt Nam là dân tộc rất mực yêu chuộng hòa bình, chúng tôi buộc phải cầm vũ khí khi không còn con đường nào khác. Mục đích tiến hành chiến tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam là vì hòa bình, thống nhất, độc lập.

Tin tưởng vào sức mạnh chính nghĩa và nhân văn đó, Đại tướng cùng với Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kiên định tư tưởng tiến công, “dám đánh, biết đánh, biết thắng và quyết thắng” tất cả mọi kẻ thù xâm lược.

Ba là, coi trọng, làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu bổ sung và phát triển lý luận

Tự cổ chí kim, điểm chung dễ nhận ra ở những nhà chiến lược quân sự vĩ đại là luôn coi trọng việc học tập binh thư, đúc kết kinh nghiệm của đời trước, cả trong nước và ngoài nước, không ngừng bổ sung và phát triển lý luận. Nhờ đó, có thể hoạch định những quyết sách chiến lược đáp ứng yêu cầu thực tiễn quốc gia - dân tộc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, kể cả khi đã nghỉ hưu, một trong những nhiệm vụ mà Đại tướng thường xuyên coi trọng và lấy chính mình làm gương, đó là viết tổng kết chiến tranh, nghiên cứu lý luận quân sự, đúc kết bài học kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đặng có thể truyền thừa cho đời sau những tri thức về khoa học quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, lòng tự hào, tự tôn, tinh thần tự cường dân tộc.

Cũng giống như lúc lãnh đạo, chỉ huy Quân đội trong chiến tranh, ba tôi dành tất cả tâm huyết, trí tuệ cho nhiệm vụ phát triển nền khoa học quân sự nước nhà. Đại tướng, Tổng Tư lệnh thường nêu vấn đề và yêu cầu đồng chí, đồng đội của mình phải viết tổng kết các chiến dịch, những trận chiến đấu, vì đó là xương máu, là trí tuệ của quân và dân ta.

Đối với Đại tướng, các cựu chiến binh là những “thư viện sống” và nhất định phát huy giá trị tốt đẹp cho đời sau. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra là phải coi trọng và làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu bổ sung và phát triển phong phú kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, mọi thời đại.

Ngày nay, chúng ta đang sống trong hòa bình, hội nhập sâu rộng và toàn diện, cơ đồ, vị thế, uy tín và tiềm lực của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ ra những nguy cơ, thách thức vẫn hiện hữu: Xung đột, chiến tranh cục bộ, thảm họa thiên tai, dịch bệnh... Sự biến hóa không ngừng những thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống không cho phép chúng ta bằng lòng, chủ quan với thành quả của ngày hôm qua; ngược lại, cần phải thực hành triệt để tư tưởng: Thái bình tu trí lực, vạn cổ thử giang sơn. Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh. Đó là sự chuẩn bị thế và lực, lòng dân, sức dân, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Sinh thời, Đại tướng luôn nhớ đến hàng triệu đồng bào, chiến sĩ - những người con ưu tú của Đảng, của dân tộc đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Ba tôi đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chính sách hậu phương Quân đội, đặng có thể làm vơi đi sự mất mát đau thương của thân nhân các gia đình liệt sĩ, những người có công với cách mạng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hưởng ứng, lan tỏa sâu sắc giá trị tốt đẹp văn hóa dân tộc Việt Nam. Đó thực sự là “mệnh lệnh từ trái tim”, thúc giục chúng ta hành động bằng tất cả tình cảm, lương thức của người Việt Nam yêu nước.

Và, vẫn còn đó “nỗi đau da cam”. Ba tôi luôn đau đáu: “Hậu quả đau thương nhất của chiến tranh là tác động của chất độc da cam... Chúng ta cần chia sẻ trách nhiệm giúp đỡ các nạn nhân và con cháu họ vượt qua. Chính phủ Hoa Kỳ cần phải có trách nhiệm...”.

Trọn cuộc đời theo Đảng, theo Bác Hồ, luôn khắc ghi và thực hiện triệt để lời Bác dặn “Dĩ công vi thượng”, trong mọi hoàn cảnh, bất kể trong chiến tranh hay hòa bình, Đại tướng luôn bình thản đối diện và tin tưởng chân lý tất thắng, chính nghĩa tất thắng, rất mực tin yêu cán bộ, chiến sĩ, tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân.

Đại tướng nhấn mạnh: Mọi thắng lợi đều thuộc về nhân dân. Nhân dân là NGƯỜI CHIẾN THẮNG. Trong bầu trời này, không có sức mạnh nào lớn bằng sức của nhân dân. Và người tướng trong Quân đội nhân dân phải thực sự: TRÍ - DŨNG - NHÂN - TÍN - LIÊM - TRUNG.

Cùng ôn lại truyền thống vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, chúng ta tỏ lòng thành kính và tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân; tưởng nhớ “Người Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, các thế hệ cách mạng tiền bối và sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Qua đó, đúc kết và phát huy thắng lợi những bài học lịch sử, giá trị tốt đẹp về tư tưởng, văn hóa quân sự Việt Nam đến với thế hệ hôm nay và mai sau, tiếp tục lan tỏa sâu rộng giá trị cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, ngõ hầu tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia - dân tộc, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

----------------

(1) Danien Benxaiđơ, Mác - Người vượt trước thời đại: Những niềm vinh quang và nỗi đau của một công cuộc mạo hiểm có tính phê phán (thế kỷ XIX - XX), Nxb CTQG, H, 1998, tr.17-18.

(2) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, H, 1975, tr.205.

(3) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, Nxb CTQGST, H, 2024, tr.279.

Võ Hồng Nam, con trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dai-tuong-vo-nguyen-giap-tron-cuoc-doi-vi-nuoc-vi-dan-1759733.html