Đắk Lắk triển khai chiến dịch cao điểm '30 ngày đêm' số hóa dữ liệu vùng trồng sầu riêng
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Đắk Lắk vừa ban hành kế hoạch triển khai chi tiết chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” nhằm số hóa dữ liệu, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng sầu riêng, cơ sở đóng gói, đồng thời kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục, dữ liệu và kiểm soát truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu sầu riêng của tỉnh.

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Đắk Lắk ban hành Kế hoạch triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” nhằm số hóa, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng sầu riêng, cơ sở đóng gói và hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh.
Theo kế hoạch, chiến dịch được thực hiện trong 30 ngày kể từ khi có quyết định phê duyệt và đủ điều kiện triển khai theo quy định, thực hiện liên tục, kể cả ngày nghỉ và ngày lễ. Mục tiêu là xử lý dứt điểm những vướng mắc liên quan đến mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) và kiểm dịch sầu riêng xuất khẩu; đồng thời số hóa, tích hợp cơ sở dữ liệu sầu riêng lên Bản đồ số nông sản tỉnh Đắk Lắk và kết nối đồng bộ với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Một trong những yêu cầu trọng tâm của chiến dịch là đơn giản hóa thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng, không đánh đổi uy tín của sầu riêng Đắk Lắk trên thị trường xuất khẩu.

Infographic giới thiệu chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” của Đắk Lắk, hướng đến số hóa dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao tính minh bạch và uy tín của sầu riêng Đắk Lắk. (Ảnh minh hoạ)
Việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu được thực hiện theo nguyên tắc “Một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, kết nối mở, chia sẻ dữ liệu, hạn chế phát sinh chi phí và thủ tục không cần thiết, đồng thời không làm gián đoạn các hệ thống đang vận hành. Dữ liệu được quản lý tập trung, dùng chung cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cập nhật thường xuyên và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và dữ liệu cá nhân.
Chiến dịch được chia thành 3 giai đoạn. Trong 5 ngày đầu, ngành chuyên môn tập trung thiết lập cơ sở dữ liệu và hạ tầng, chuẩn hóa, số hóa dữ liệu vùng trồng trên nền bản đồ Vietmap từ dữ liệu đất đai địa phương; rà soát hạ tầng công nghệ thông tin, phân quyền khai thác cơ sở dữ liệu và thành lập các Tổ hành động số lưu động để hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp tại cơ sở.
Từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 25, chiến dịch chuyển sang giai đoạn thu thập và số hóa thực địa. Trọng tâm là số hóa 280 MSVT với diện tích khoảng 7.500 ha và 42 CSĐG đã đủ điều kiện xuất khẩu; đồng thời xử lý dữ liệu của 338 MSVT với khoảng 6.500 ha và hơn 93 CSĐG đang hoàn thiện hồ sơ cấp mới.
Các tổ công tác sẽ sử dụng ứng dụng di động để định vị tọa độ, tải hồ sơ pháp lý liên quan đến căn cước công dân, đất đai và kiểm tra, xác thực dữ liệu ngay tại thực địa. Sau khi hoàn thành, dữ liệu được chuyển sang phương thức quản lý số, cho phép cập nhật biến động theo thời gian thực, góp phần nâng cao tính chính xác và minh bạch trong quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói.
Giai đoạn cuối, từ ngày 26 đến ngày 30, tập trung kết nối, liên thông dữ liệu với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia; mở cổng khai thác dữ liệu cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn; bảo đảm an toàn, dự phòng hệ thống, tổng kết kết quả và trình UBND tỉnh nghiệm thu.
Để bảo đảm tiến độ, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ thành lập các Tổ hành động số lưu động với sự tham gia của cán bộ chuyên môn và nhân sự kỹ thuật. Các tổ có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ, xác minh dữ liệu, hỗ trợ hạ tầng, phần mềm và thực hiện số hóa dữ liệu tại cơ sở.
Song song đó, ngành chức năng rà soát, thống kê và phân loại diện tích sầu riêng theo 3 nhóm gồm: vùng đủ điều kiện xuất khẩu; vùng đang hoàn thiện hồ sơ cấp mới và vùng có nhu cầu thực hiện. Việc phân loại nhằm xác định thứ tự ưu tiên, bố trí nguồn lực phù hợp và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh.
Chiến dịch cũng đặt yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành giữa các phòng, trạm trực thuộc Chi cục với chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan. Cơ chế làm việc liên ngành, tổ công tác và tổ kỹ thuật sẽ được hình thành nhằm xử lý nhanh các vấn đề về kỹ thuật, pháp lý và dữ liệu.
Đặc biệt, sau khi kết thúc 30 ngày cao điểm, cơ sở dữ liệu sẽ tiếp tục được duy trì, cập nhật và khai thác lâu dài. Ngành chuyên môn hướng tới xây dựng hệ thống dữ liệu sầu riêng bảo đảm tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Việc triển khai chiến dịch “30 ngày đêm” được kỳ vọng tạo chuyển biến mạnh trong số hóa quản lý ngành hàng sầu riêng tại Đắk Lắk, nâng cao tính minh bạch của vùng nguyên liệu, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và tăng khả năng kết nối dữ liệu giữa địa phương với hệ thống quốc gia. Qua đó, tỉnh từng bước xây dựng nền tảng dữ liệu hiện đại, góp phần phát triển ngành hàng sầu riêng theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của thị trường quốc tế.

