Đằng sau bức tranh lợi nhuận ngân hàng: Nợ xấu tăng mạnh, bộ đệm dự phòng suy giảm
Nợ xấu quý II/2026 tăng lên mức cao nhất kể từ quý II/2020. Bất chấp chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh, tỷ lệ bao phủ nợ xấu vẫn bị suy giảm.
Lợi nhuận tăng mạnh
Trong báo cáo vừa công bố, SSI Research nhận định, ngành ngân hàng tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng mạnh trong quý II/2026, khi các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế đạt 95,7 nghìn tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ và tăng 20,3% so với quý trước.
Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN) dẫn đầu đà tăng, đáng chú ý là Vietcombank với mức tăng 58% so với cùng kỳ (svck) và 48% so với quý trước. Theo sau là VietinBank (+22% svck) và BIDV (+20% svck) cũng ghi nhận kết quả tích cực.
Trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), đặc biệt là các ngân hàng có nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng như VPBank đạt mức tăng tới 76% svck, HDBank tăng 51% và MB tăng 41%, đều ghi nhận mức lợi nhuận vượt trội so với mặt bằng chung của ngành. SACOMBANK là trường hợp kém khả quan nhất khi lợi nhuận giảm 44% svck.
Nhìn chung, SSI Research đánh giá, kết quả vượt kỳ vọng chủ yếu đến từ Vietcombank, Vietinbank và BIDV, nhờ thu nhập lãi thuần tích cực, thu nhập ngoài lãi cải thiện và chi phí tín dụng giảm.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đã hoàn thành khoảng 49,4% dự báo lợi nhuận trước thuế cả năm.

Lợi nhuận nhiều ngân hàng tăng trưởng mạnh trong quý II
Về tăng trưởng tín dụng trong quý duy trì tích cực nhưng có sự phân hóa. Tổng dư nợ tín dụng toàn ngành tăng 5,3% so với quý trước, đưa mức tăng trưởng tín dụng tính từ đầu năm lên 9,1%. Mức tăng trưởng chủ yếu tập trung ở nhóm NHTMCP, với VPBank, HDBank và Techcombank ghi nhận tăng trưởng tín dụng đạt 11-12% so với quý trước, trong khi MB tăng 9,6%.
Ngược lại, nhóm NHTMNN tăng trưởng thận trọng hơn, với VietinBank và BIDV chỉ tăng khoảng 3% so với quý trước trong khi dư nợ cho vay của VCB gần như đi ngang (+0,2% so với quý trước). Nguyên nhân do các ngân hàng chủ động dành hạn mức cho vay cho các dự án hạ tầng quốc gia có quy mô lớn, dự kiến được đẩy mạnh trong nửa cuối năm 2026.
Tăng trưởng huy động vốn phục hồi nhưng thanh khoản vẫn cần thời gian để cải thiện. Tổng tiền gửi tăng 5,3% so với quý trước, tương đương tốc độ tăng trưởng tín dụng, sau khi chỉ tăng 1,5% trong quý I/2026.
Dù có cải thiện, song tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn ngành vẫn ở mức cao 102,4%, phản ánh áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu.
Nhiều ngân hàng tiếp tục đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay vốn quốc tế, bao gồm VPBank (1,44 tỷ USD), HDBank (720 triệu USD) và ACB (500 triệu USD). Tuy nhiên, chi phí huy động dự kiến duy trì ở mức cao trong các quý tới.
Nhưng chất lượng tài sản suy giảm
Thống kê của nhóm phân tích cho thấy tỷ lệ nợ xấu trong quý II đã tăng lên 1,97% từ mức 1,88% trong quý I – mức cao nhất kể từ quý II/2020. Trong khi tỷ lệ nợ Nhóm 2 tăng lên 1,45% từ 1,30%, cho thấy áp lực chất lượng tài sản gia tăng.
Mức tăng nợ xấu chủ yếu tập trung tại VietinBank (+21,8% so với quý trước), SACOMBANK (+15,6%), HDBank (+17,6%) và BIDV (+7,2%), trong khi phần lớn các ngân hàng khác tương đối ổn định. Tính chung từ đầu năm, nợ xấu toàn ngành đã tăng 21,4%.
Tương tự với chi phí dự phòng, trong khi các NHTMNN giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, thì nhóm NHTMCP lại tăng mạnh 33% so với quý trước, chủ yếu đến từ SACOMBANK (+152%), HDBank (+104%), OCB (+85%) và ACB (+55%).
Tính chung toàn ngành, chi phí dự phòng tăng 22,6% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu vẫn tiếp tục giảm xuống 83% trong quý II/2026, từ mức 86% trong quý I và 95% trong quý II/2025. Điều này cho thấy bộ đệm dự phòng đang dần thu hẹp để đạt mức tăng trưởng lợi nhuận tích cực.
“Chúng tôi duy trì quan điểm thận trọng đối với chất lượng tài sản của ngành trong nửa cuối năm 2026. Với mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao 12-15%, đặc biệt ở phân khúc vay mua nhà, và khả năng vỡ nợ chéo giữa các tổ chức tín dụng thông qua dữ liệu CIC trong những quý tới” – SSI Research nhận định.
Biên lãi ròng (NIM) phục hồi. NIM toàn ngành tăng lên 3,22% từ mức 3,04% trong quý I, tương đương mức tăng 18 điểm cơ bản so với quý trước, và tăng 4 điểm cơ bản svck, nhờ lãi suất cho vay tăng, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn tăng, và tỷ lệ LDR vẫn còn neo cao.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng tính bền vững của đà phục hồi vẫn còn là một dấu hỏi khi chi phí vốn tiếp tục được điều chỉnh tăng.
Thu nhập ngoài lãi cải thiện đáng kể. Trong đó, thu nhập từ phí tăng mạnh 54,3% svck hay 27,9% so với quý trước, trong khi tổng thu nhập ngoài lãi tăng 17,7% svck và 33,2% so với quý trước. Điều này phản ánh các mảng dịch vụ phục hồi và dần trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận.
Hiệu quả hoạt động các nhà băng tiếp tục cải thiện khi tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) toàn ngành giảm xuống 28,2%, từ 29,4% trong quý trước và 32,6% trong quý IV/2025.
Từ những phân tích trên, SSI Research giữ quan điểm thận trọng đối với ngành khi những dấu hiệu về chất lượng tài sản suy giảm ngày càng trở nên rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan.
Dù vậy, các nhà phân tích vẫn kỳ vọng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ tăng trưởng tích cực trong nửa cuối năm 2026, nhưng mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng.














