Đảng ủy Bộ Công Thương với công tác cải cách thể chế: Phát huy vai trò 'đột phá của đột phá' trong xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển

Trong bối cảnh chất lượng thể chế ngày càng đóng vai trò quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia dài hạn, Đảng ta đã xác định đột phá thể chế là 'đột phá của đột phá' để mở đường cho phát triển.

Tóm tắt:

Trong bối cảnh chất lượng thể chế ngày càng đóng vai trò quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia dài hạn, Đảng ta đã xác định đột phá thể chế là “đột phá của đột phá” để mở đường cho phát triển. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và nêu cao tinh thần "tự soi, tự sửa", liên tục đổi mới, công tác cải cách thể chế ngành Công Thương đã và đang tạo ra những tác động lan tỏa đến toàn nền kinh tế, điển hình: kéo giảm sâu chi phí tuân thủ, giải phóng nguồn lực, củng cố niềm tin người dân, doanh nghiệp. Những kết quả này góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường.

Từ khóa: cải cách thể chế, Đảng ủy Bộ Công Thương, ngành Công Thương, kiến tạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, quá trình phân mảnh kinh tế toàn cầu tăng tốc, địa chính trị biến động phức tạp, cùng với xu hướng chuyển đổi “xanh, số” diễn ra sâu rộng, các nền kinh tế có quy mô tầm trung và nhỏ chịu áp lực ngày càng lớn về nâng cao năng lực thích ứng, củng cố sức chống chịu và khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững.

Đối với một nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới như Việt Nam, lợi thế cạnh tranh quốc gia không chỉ còn dựa vào lợi thế về tài nguyên, chi phí lao động hay các ưu đãi đầu tư, mà ngày càng được định hình bởi chất lượng thể chế. Trong đó, tính hiệu quả quản lý nhà nước, minh bạch trong hoạch định chính sách, ổn định trong thực thi, liêm chính trong vận hành, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và khuyến khích sáng tạo là những cấu phần cốt lõi quyết định chất lượng thể chế. Thực tiễn cũng cho thấy thể chế là nền tảng cốt lõi định đoạn một quốc gia sẽ phát triển hay mắc kẹt trong nghèo đói1.

Với vai trò kiến tạo năng lực sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, bảo đảm an ninh năng lượng và hội nhập quốc tế, ngành Công Thương đóng vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế đất nước, thực hiện tiến bộ xã hội. Vì vậy, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật ngành Công Thương đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - mạch nguồn sự thịnh vượng của dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, cùng sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tư duy về cải cách thể chế ngành Công Thương ngày càng được bổ sung, phát triển theo hướng nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện đúng điểm nghẽn, dám “tự soi, tự sửa” để đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực thi. Sự phát triển tư duy này phản ánh bản lĩnh chính trị, trí tuệ và khả năng tự đổi mới của Đảng trước những biến động to lớn của tình hình trong nước và thế giới; đồng thời là nền tảng chính trị - lý luận quan trọng để cải cách thể chế ngành Công Thương chuyển hóa thành hành động cụ thể, kết quả thực chất và động lực kiến tạo phát triển.

Cải cách thể chế ngành Công Thương: Hành động đồng bộ, quyết liệt, thực chất

Trên cơ sở nhận thức đó, Đảng ủy Bộ Công Thương xác định công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Đây không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác quản lý nhà nước, mà là giải pháp chiến lược mang tính chất "đột phá của đột phá", phải đi trước một bước, nhằm làm mới các động lực tăng trưởng hiện hữu, kiến tạo và khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới.

Bộ Công Thương đã và đang triển khai đồng bộ công tác hoàn thiện khung pháp lý; cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh; phân cấp, phân quyền; tinh gọn bộ máy; và chuyển đổi số.

Cụ thể, trong giai đoạn 2021 - 2025, về hoàn thiện khung pháp lý, Bộ Công Thương đã chủ trì xây dựng, ban hành khoảng 300 văn bản quy phạm pháp luật, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại theo hướng hiện đại, bền vững. Trong đó, Bộ đã chủ trì rà soát, nghiên cứu xây dựng và trình Chính phủ để trình Quốc hội thông qua các luật quan trọng có tác động lớn tới kinh tế - xã hội như: Luật Dầu khí năm 2022, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Điện lực năm 2024, Luật Hóa chất năm 2025, Luật sửa đổi một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật Thương mại điện tử năm 2025; đồng thời nghiên cứu, trình Chính phủ thông qua hồ sơ chính sách Dự án Luật Công nghiệp trọng điểm.

Năm 2025, Bộ Công Thương hoàn thành 100% chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Công Thương đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; trong đó, thay mặt Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 189/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phát triển năng lượng giai đoạn 2026 - 2030 và Nghị quyết số 66.6/2025/NQCP của Chính phủ ngày 28/10/2025 Quy định về xử lý khó khăn, vướng mắc trong giao quyền phê duyệt một số nội dung trong hoạt động dầu khí.

100% thủ tục hành chính cấp bộ đã được cung cấp trên Cổng dịch vụ công trực tuyến Bộ Công Thương (www.dichvucong.moit.gov.vn)

100% thủ tục hành chính cấp bộ đã được cung cấp trên Cổng dịch vụ công trực tuyến Bộ Công Thương (www.dichvucong.moit.gov.vn)

Cùng với hoàn thiện khung pháp luật, Bộ Công Thương đã đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc phạm vi quản lý. Bộ đã trình Chính phủ phương án cắt giảm, đơn giản hóa 55,34% thủ tục hành chính và 30,4% tổng số điều kiện đầu tư kinh doanh, vượt mục tiêu Chính phủ giao. Đối với thủ tục hành chính, giấy tờ công dân, Bộ đã đơn giản hóa 95% thủ tục.

Về phân cấp, phân quyền, Bộ Công Thương chủ động rà soát, phân định lại thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương theo hướng rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, sát với thực tiễn và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cụ thể, đã phân định lại từ cấp huyện xuống cấp xã 32 nhiệm vụ và từ cấp huyện lên cấp tỉnh là 7 nhiệm vụ; phân quyền, phân cấp mạnh cho địa phương đối với 52% nhiệm vụ và 30,8% thủ tục hành chính. Đồng thời, Bộ chuyển giao nguyên trạng lực lượng Quản lý thị trường về địa phương, giúp nâng cao hiệu lực giám sát thị trường tại địa phương.

Song song, Bộ Công Thương tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, tăng cường trách nhiệm và hiệu quả thực thi công vụ. Năm 2025, Bộ đã tinh giản 25% đầu mối đơn vị trực thuộc, giảm còn 21 đơn vị; cắt giảm 66% số phòng ban chuyên môn. Bộ cũng thực hiện đơn giản hóa đối với 20,45% thủ tục hành chính nội bộ và số hóa hoàn toàn quy trình quản lý văn bản.

Bộ Công Thương cũng triển khai mạnh mẽ hoạt động chuyển đổi số, hướng đến việc hiện đại hóa phương thức chỉ đạo, điều hành và nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ, từ đó nâng cao tính minh bạch, rút ngắn quy trình xử lý thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Đến nay 100% thủ tục hành chính cấp bộ đã được cung cấp trên Cổng dịch vụ công trực tuyến; trong đó, gần 75% dịch vụ đạt mức trực tuyến toàn trình (giải quyết 100% trên Internet). Đồng thời, 16 nhóm dịch vụ công trực tuyến đã được Bộ kết nối với Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, cũng như góp phần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và phù hợp với các chuẩn mục khu vực.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã hoàn thiện và công khai 40 cơ sở dữ liệu và cơ sở dữ liệu mở, kết nối và chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu thuế, Cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, và các cơ quan trọng yếu như Bộ Tài chính, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ đã được kết nối với Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, cho phép người dân và doanh nghiệp đăng nhập, xác thực, nộp hồ sơ thông qua ứng dụng VNeID.

Những nỗ lực này phản ánh rõ tiến trình hoàn thiện thể chế của Bộ Công Thương không chỉ dừng ở các biện pháp kỹ thuật pháp lý mà sâu xa hơn là sự chuyển đổi về tư duy và phương thức quản trị nhà nước. Đó là bước chuyển từ tư duy quản lý để kiểm soát sang tạo thuận lợi để phát triển, từ quan hệ hành chính một chiều sang đồng hành, phục vụ với người dân, doanh nghiệp là trung tâm. Đây chính là cơ sở quan trọng để tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn, giải phóng tối đa các nguồn lực xã hội, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Giải phóng nguồn lực, thúc đẩy đổi mới, chuyển hóa niềm tin thành sức mạnh kinh tế

Thực tiễn cho thấy các nỗ lực hoàn thiện thể chế của Đảng ủy Bộ Công Thương đã và đang tạo ra hiệu quả rõ nét, trực tiếp đến hiệu quả vận hành nền kinh tế.

Tính đến cuối năm 2025, Cổng Dịch vụ công Bộ Công Thương đã tiếp nhận và xử lý trực tuyến hơn 2,23 triệu bộ hồ sơ, chiếm trên 99% tổng số hồ sơ hành chính của Bộ, với gần 152.000 doanh nghiệp tham gia khai báo. Với kết quả này, Bộ Công Thương xếp thứ 3 về Chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp do Văn phòng Chính phủ công bố2.

Việc kết nối dịch vụ công trực tuyến với Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN cũng được triển khai hiệu quả, xử lý hơn 640.000 hồ sơ điện tử. Trong đó, thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu D đạt trên 285.000 bộ hồ sơ trao đổi điện tử với các nước ASEAN, trở thành chứng từ điện tử đầu tiên của Việt Nam được gửi ra nước ngoài, tạo tiền đề quan trọng để mở rộng trao đổi, xử lý trực tuyến các chứng từ thương mại khác theo cam kết quốc tế. Thủ tục C/O mẫu AK, VK truyền trực tuyến qua Hàn Quốc đạt gần 240.000 hồ sơ, thủ tục khai báo hóa chất đạt hơn 115.000 bộ hồ sơ. Đặc biệt, trong lĩnh vực phòng vệ thương mại, đông đảo doanh nghiệp đã thực hiện việc nộp hồ sơ, tham gia điều tra hoàn toàn trên môi trường số.

Cùng với quá trình số hóa, các đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh đã giúp doanh nghiệp và người dân tiết giảm 30,71% tổng chi phí tuân thủ, 32,72% tổng thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tương đương giảm 1.257 ngày và 393 ngày làm việc.

Với việc các thủ tục phức tạp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu được xử lý trên môi trường số, chi phí tuân thủ cũng như các chi phí kinh doanh không cần thiết trong toàn chuỗi cung ứng được cắt giảm đáng kể.

Quan trọng hơn, các chi phí ẩn nảy sinh từ sự mất lòng tin hoặc sự chậm trễ của bộ máy công quyền trong xử lý thủ tục được hạn chế tối đa. Khi người dân, doanh nghiệp không còn phải phân tán nguồn lực cho các thủ tục hành chính, những tầng nấc trung gian không cần thiết, sẽ có điều kiện chuyển dịch thời gian, công sức, vốn sang các hoạt động mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, đổi mới công nghệ…3. Nói cách khác, cải cách thể chế không chỉ là làm cho thủ tục “nhanh hơn”, mà làm cho thị trường vận hành thông suốt, minh bạch, hiệu quả hơn.

Với việc các thủ tục hành chính phức tạp được xử lý trên môi trường số, chi phí tuân thủ cũng như các chi phí kinh doanh không cần thiết trong toàn chuỗi cung ứng của ngành Công Thương đã được cắt giảm đáng kể.

Với việc các thủ tục hành chính phức tạp được xử lý trên môi trường số, chi phí tuân thủ cũng như các chi phí kinh doanh không cần thiết trong toàn chuỗi cung ứng của ngành Công Thương đã được cắt giảm đáng kể.

Đáng chú ý, mặc dù quản lý nhiều lĩnh vực, ngành nghề phức tạp, các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương hiện chỉ còn chiếm 10% tổng số ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo Phụ lục 4 Luật Đầu tư. Điều này phản ánh rõ định hướng quản lý có trọng tâm, trọng điểm, giảm tối đa các rào cản gia nhập thị trường không cần thiết và mở rộng không gian phát triển cho các chủ thể kinh tế.

Qua đó, các chủ thể mới, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn là động lực chính của đổi mới sáng tạo, có cơ hội thử nghiệm và không gian để vươn lên4. Sự xuất hiện của các chủ thể này không chỉ làm gia tăng quy mô hoạt động kinh tế, mà quan trọng hơn là đem đến áp lực cạnh tranh lành mạnh, sôi động, buộc các chủ thể hiện hữu phải liên tục nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển, thay vì dựa vào các cơ chế xin - cho hay đặc quyền chính sách. Nhờ đó, chất lượng cạnh tranh chung của toàn nền kinh tế được nâng lên, nguồn lực xã hội được phân bổ hiệu quả hơn, các động lực đổi mới sáng tạo được khơi thông mạnh mẽ hơn.

Có thể nói, các hiệu quả kinh tế đạt được từ cải cách chính là những chỉ số phản ánh tốt nhất năng lực quản trị của Nhà nước, còn niềm tin của người dân và doanh nghiệp chính là thước đo giá trị chính trị của cải cách. Với mỗi bước đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ tầng nấc trung gian là một bước tiến trong củng cố niềm tin xã hội vào một nền hành chính kiến tạo, liêm chính, phục vụ.

Nhìn từ học thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, xét đến cùng, sự thịnh vượng của một quốc gia phụ thuộc vào việc tạo dựng một môi trường kinh doanh cùng với những thiết chế hỗ trợ cho phép quốc gia này sử dụng hiệu quả và nâng cấp nguồn lực đầu vào của nó5.

Những nỗ lực cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển đổi số và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp của Bộ Công Thương đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng “đường băng thể chế” để năng suất quốc gia có thể cất cánh. Đây là nền tảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, trở thành nước đang phát triển, có nền công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới vào năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Thể chế phát triển ngành Công Thương dưới ánh sáng tư duy đổi mới của Đảng

Các kết quả tích cực trong cải cách thể chế ngành Công Thương không phải kết quả kỹ thuật hành chính thuần túy, mà là sự cụ thể hóa sinh động đường lối đúng đắn của Đảng về đổi mới tư duy phát triển, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Nhìn lại hành trình hơn 96 năm lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, nhất là qua 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Đảng ta đã đúc rút nhiều bài học lý luận và thực tiễn sâu sắc; trong đó, có bài học mang ý nghĩa nền tảng là mọi chủ trương, đường lối phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và kịp thời được cụ thể hóa bằng thể chế, chính sách phù hợp, hiệu quả.

Đối với nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là một trong ba đột phá chiến lược tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Thể chế phát triển bền vững là điều kiện quyết định để “tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”6.

Trên nền tảng đó, tư duy lập pháp đã được đổi mới theo hướng vừa bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước vừa thúc đẩy sáng tạo, giải phóng các nguồn lực phát triển, tạo đột phá trong tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả, nghiêm minh, thống nhất. Đặc biệt, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành một chuỗi các Nghị quyết mang tính chiến lược, có tính hệ thống, hướng tới xóa bỏ điểm nghẽn thể chế, củng cố nội lực quốc gia và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp.

Trong đó, 06 Nghị quyết gồm: (1) Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (2) Nghị quyết số 59- NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (3) Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (4) Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; (5) Nghị quyết số 70-NQ/ TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và (6) Nghị quyết 79-NQ/TW năm 2026 về phát triển kinh tế nhà nước, tạo thành một chỉnh thể chính sách đồng bộ.

Các nghị quyết này không tồn tại biệt lập, mà tạo thành một “vòng tuần hoàn hỗ trợ” cho phát triển: thể chế thông suốt giúp nguồn lực được giải phóng; khoa học - công nghệ và chuyển đổi số tạo động lực đổi mới; kinh tế tư nhân phát huy vai trò xung kích trong sản xuất, kinh doanh; kinh tế nhà nước giữ vai trò ổn định, dẫn dắt ở những lĩnh vực trọng yếu; an ninh năng lượng bảo đảm điều kiện nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập quốc tế mở rộng thị trường, nâng chuẩn cạnh tranh và thúc đẩy doanh nghiệp vươn ra toàn cầu. Nhờ đó, doanh nghiệp và doanh nhân nhận được những thông điệp chính sách rõ ràng, mạnh mẽ: chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính phải tiếp tục được cắt giảm; khả năng tiếp cận vốn, đất đai, dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực phải được cải thiện; hạ tầng năng lượng, logistics, thương mại số phải được nâng cấp; thị trường xuất khẩu phải được mở rộng theo những chuẩn mực cao hơn về chất lượng, xanh hóa, số hóa và minh bạch hóa.

Tất cả những yếu tố đó tạo nên hệ sinh thái thể chế thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ nhiệm vụ cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng.

Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ nhiệm vụ cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tư duy của Đảng về thể chế tiếp tục được phát triển lên một tầm cao mới, toàn diện hơn, sâu sắc hơn và cấp thiết hơn. Theo đó, thể chế không chỉ còn được định vị là khung khổ hành lang pháp lý để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội vận hành thông suốt và hội nhập quốc tế, mà được xác định rõ là “đột phá của đột phá”, là nguồn lực kiến tạo, là điều kiện mở đường và là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Nghị quyết nêu rõ yêu cầu “hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước; trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”7.

Đây là cách tiếp cận thể hiện tư duy phát triển toàn diện của Đảng: thể chế kinh tế tuy giữ vị trí trọng tâm, nhưng không tồn tại biệt lập, mà được đặt trong một chỉnh thể thể chế thống nhất, có quan hệ cơ hữu, biện chứng với các thể chế chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Bởi phát triển kinh tế nhanh và bền vững không chỉ phụ thuộc vào cơ chế thị trường, phân bổ nguồn lực hay năng lực cạnh tranh, mà còn dựa trên nền tảng ổn định chính trị - xã hội, kỷ cương pháp luật, quốc phòng - an ninh vững chắc, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường được bảo vệ và đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên. Các thể chế này không phải phần “phụ trợ” bên ngoài kinh tế, mà là những điều kiện nền tảng để kinh tế phát triển ổn định, có chiều sâu và có khả năng chống chịu trước biến động.

Và ngược lại, kinh tế phát triển nhanh và bền vững sẽ tạo ra nguồn lực vật chất để củng cố hệ thống chính trị, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, mở rộng phúc lợi xã hội, phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, tăng cường quốc phòng - an ninh và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Đặc biệt, không chỉ ghi nhận những thành tựu đã đạt được và định vị rõ vai trò của thể chế phát triển, Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật, chỉ ra những yếu kém, hạn chế về thể chế phát triển đất nước thời gian qua một cách khách quan, cầu thị.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ, hệ thống thể chế phát triển trong thời gian qua chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển8.

Từ nhận thức trên, Đảng đã đặt ra các yêu cầu cải cách, hoàn thiện thể chế phát triển một cách đồng bộ, thực chất và quyết liệt hơn bao giờ hết. Trọng tâm không chỉ là tháo gỡ các điểm nghẽn riêng lẻ, mà là xây dựng hệ thống thể chế kiến tạo phát triển, minh bạch, ổn định, hiệu quả, phục vụ nhân dân và đồng hành cùng doanh nghiệp, giúp giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tinh thần nhìn thẳng vào hạn chế, không né tránh bất cập, không bằng lòng với các kết quả đạt được và chủ động đặt ra yêu cầu tự đổi mới đó cho thấy trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của một Đảng cầm quyền chân chính, dẫn dắt đất nước thích ứng với những biến đổi sâu sắc của thời đại.

Đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn, biến tư duy đổi mới thành hành động cải cách

Chính nền tảng lý luận và định hướng chính trị này đã “soi đường” cho công cuộc cải cách thể chế ngành Công Thương. Là lĩnh vực bao trùm nhiều trụ cột của nền kinh tế quốc dân, từ công nghiệp, năng lượng, thương mại, xuất nhập khẩu đến hội nhập kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện thể chế phát triển ngành Công Thương không chỉ tạo tác động giới hạn trong phạm vi quản lý ngành, mà còn lan tỏa sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế, góp phần quan trong vào đổi mới mô hình tăng trưởng.

Triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Đảng ủy Bộ Công Thương đã nhanh chóng cụ thể hóa thành chương trình hành động với mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng. Đặc biệt, việc tổ chức thực hiện được quán triệt theo phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”, bảo đảm tiến độ, tính khả thi, thiết thực và hiệu quả9. Qua đó, những định hướng lớn của Đảng được chuyển hóa thành cơ chế tổ chức, hành động cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý của ngành.

Trước hết, Đảng ủy Bộ Công Thương đặt mục tiêu hoàn thành 100% nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách theo chương trình xây dựng pháp luật hằng năm của Chính phủ, tập trung hoàn thiện các dự án luật then chốt và thể chế đặc thù, bảo đảm tính đồng bộ, hiện đại và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế, như: Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Dầu khí và xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp mới nổi, điện hạt nhân và điện gió ngoài khơi.

Đồng thời, Đảng ủy Bộ Công Thương tiếp tục đẩy mạnh triển khai nhiệm vụ đổi mới tư duy và phương thức quản lý nhà nước, chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” dựa trên đánh giá rủi ro và chuyển đổi số; kiên quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.

Đặc biệt, để thể chế thực sự trở thành động lực phát triển, Đảng ủy Bộ Công Thương cũng đặt ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới: có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, năng lực chuyên môn, tư duy phục vụ và tinh thần đổi mới sáng tạo. Cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được đặt ra như một điều kiện quan trọng để chống trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm; qua đó tạo môi trường cho những quyết sách cải cách được triển khai thực chất hơn.

Đây cũng là tinh thần chuyển từ tư duy “pháp luật tốt trên văn bản” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh. Theo đó, hoàn thiện thể chế không thể chỉ dừng ở việc ban hành đủ, đúng, kịp thời các văn bản pháp luật, mà phải được đo bằng hiệu quả thực thi, bằng khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, bằng niềm tin của người dân, doanh nghiệp.

Cải cách thể chế ngành Công Thương góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường

Có thể khẳng định, cải cách thể chế ngành Công Thương trong thời gian qua không chỉ tạo ra những chuyển biến cụ thể trong quản lý nhà nước, mà còn đem lại những giá trị thực tiễn sâu sắc đối với phát triển kinh tế - xã hội. Khung pháp lý ngành Công Thương đang từng bước trở thành nguồn lực phát triển, trở thành lợi thế cạnh tranh và trở thành phương thức củng cố niềm tin người dân, doanh nghiệp. Những kết quả này ngày càng được nhìn nhận, đánh giá rõ hơn, khách quan hơn từ cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức trong nước và quốc tế.

Bất chấp những bất định của kinh tế thế giới, hàng loạt doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, năng lượng, khai khoáng như Tập đoàn Masan, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Hòa Phát, Thế giới Di Động, Cơ Điện Lạnh… thể hiện sự lạc quan vào triển vọng kinh tế Việt Nam, vào quyết tâm cải cách và tốc độ thực thi chính sách của Chính phủ. Niềm tin ấy không dừng lại ở nhận định, mà được cụ thể hóa bằng các kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ cao, mở rộng hệ thống phân phối và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị mơí10.

Trên bình diện quốc tế, các đánh giá của Ngân hàng Thế giơí11, Ngân hàng Phát triển châu Á, Quỹ Tiền tệ quốc tế12, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham)13 và cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài14 đều gặp nhau ở một nhận định quan trọng: Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình cạnh tranh dựa chủ yếu vào chi phí thấp sang mô hình cạnh tranh dựa trên chất lượng thể chế, tính minh bạch của môi trường kinh doanh, năng lực thực thi chính sách, hạ tầng năng lượng ổn định và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, số của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đây là những ghi nhận khách quan đối với nỗ lực cải cách của Việt Nam nói chung, trong đó có vai trò trực tiếp của ngành Công Thương trong hoàn thiện thể chế công nghiệp, thương mại, năng lượng, thương mại điện tử, xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều đó càng khẳng định rằng, khi thể chế được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, dễ dự báo và phục vụ phát triển, thì thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà trở thành một nguồn lực cạnh tranh quốc gia.

Từ những thành tựu hoàn thiện thể chế ngành Công Thương, có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà là nguồn lực mở đường cho đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Giá trị lớn nhất của cải cách không nằm ở số lượng văn bản được ban hành hay thủ tục được cắt giảm, mà ở năng lực chuyển hóa chủ trương của Đảng thành hành động cụ thể, thành kết quả phát triển, thành niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp. Đó cũng chính là tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng: phải “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả”, kiên quyết chuyển từ “nói” sang “làm”, từ nhận thức thành hành động15.

Trong chặng đường bản lề phía trước, khi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, hùng cường vào giữa thế kỷ XXI đang đặt ra yêu cầu hành động quyết liệt hơn bao giờ hết, cải cách thể chế ngành Công Thương phải tiếp tục đi đầu nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng dân tộc: Xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, tự chủ, tự cường, vững vàng tiến bước dưới ánh sáng soi đường của Đảng!

Tài liệu trích dẫn

1. Acemoglu, D., & Robinson, J. A. (2012). Tại sao các quốc gia thất bại - Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói. Nhà xuất bản Trẻ.

2. Cổng Dịch vụ công Quốc gia. (n.d.). Chất lượng quản trị công trong thực hiện TTHC, cung cấp DVC. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-index-bonganh-tonghop.html

3, 5. Porter, M. E. (2012). Lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nhà xuất bản Trẻ.

4. Senor, D., & Singer, S. (2013). Quốc gia khởi nghiệp. Nhà xuất bản Thế giới.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-3663

7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang2.html

9. Đảng ủy Bộ Công Thương. (2026). Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Công Thương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (Văn bản số 09-CTr/ĐU).

10. Doanh nghiệp lĩnh vực Công Thương: Tự tin vào triển vọng kinh tế, đặt mục tiêu kinh doanh cao kỷ lục. (2026). Tạp chí Công Thương, số 4+5.

11. World Bank. (2026). Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/ca5381dc-21cb-4556-a201-c7bfeeac944d/content

12. International Monetary Fund. (2025). Vietnam: 2025 Article IV consultation - Press release; Staff report; and statement by the Executive Director for Vietnam (IMF Country Report No. 25/283). https://doi.org/10.5089/9798229026949.002

13. EuroCham Vietnam. (2026). EuroCham Business Confidence Index Q4 2025: Confidence reached its highest in seven years. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://eurochamvn.org/eurocham-business-confidence-index-q4-2025-confidence-reached-its-highest-in-seven-years/

14. Vietnam Investment Review (2026). Foreign executives assess Vietnam business outlook for 2026. Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://vir.com.vn/foreign-executives-assess-vietnam-business-outlook-for-2026-147228.html

15. Tô Lâm (2026). Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta! Truy xuất ngày 24/5/2026, từ: https://tapchicongthuong.vn/magazine/tien-len--toan-thang-at-ve-ta-414523.htm

Duy Quang

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/dang-uy-bo-cong-thuong-voi-cong-tac-cai-cach-the-che--phat-huy-vai-tro--dot-pha-cua-dot-pha--trong-xay-dung-chinh-phu-liem-chinh--kien-tao-phat-trien-521053.htm