Đánh giá khả năng bảo đảm nguồn cung và chuyển đổi xăng sinh học E10 trong tháng 4
Sáng 26/3, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về khả năng triển khai lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sinh học (E10) trong tháng 4/2026.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, cuộc họp nhằm xem xét, quyết định việc có đẩy sớm lộ trình triển khai nhiên liệu sinh học E10 lên trong tháng 4 hay không? Do đó, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị trên cơ sở quá trình nghiên cứu, chuẩn bị vừa qua, báo cáo, khẳng định rõ khả năng triển khai trong tháng 4.

Quang cảnh cuộc họp.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu rất cấp thiết, đặc biệt là áp lực về nguồn cung, trong khi lộ trình chính thức đã xác định từ ngày 1/6. Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương nghiên cứu, trao đổi với các bên liên quan để xem xét khả năng triển khai sớm hơn. Tinh thần là phải đánh giá đầy đủ các điều kiện thực hiện.
Vì vậy, Bộ tổ chức cuộc họp này với sự tham gia của đầy đủ các bên liên quan để làm rõ một số nội dung trọng tâm gồm công tác chuẩn bị hạ tầng phục vụ chuyển đổi. Cùng với đó đánh giá khả năng bảo đảm nguồn cung và tổ chức vận hành ngay trong tháng 4; những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là các vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước. Đặc biệt xem xét tác động đến giá cả, chi phí và đưa ra các đề xuất, sáng kiến nhằm thúc đẩy, rút ngắn lộ trình triển khai.
“Cuộc họp hôm nay có đầy đủ các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng các cơ quan liên quan như Ngân hàng Nhà nước. Đề nghị các đơn vị nêu rõ, cụ thể các khó khăn, vướng mắc để xử lý kịp thời. Kết quả của cuộc họp hôm nay sẽ là cơ sở để Bộ Công Thương tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền. Thời gian không còn nhiều, nếu triển khai trong tháng 4 thì mốc có thể là giữa tháng hoặc chậm nhất là ngày 30/4. Như vậy, quỹ thời gian chỉ khoảng 30 ngày. Mốc thời gian này đòi hỏi sự chuẩn bị rất khẩn trương và đồng bộ”, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nêu rõ.
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết, nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn xăng sinh học E10 ước tính khoảng 92.000-100.000 m³ mỗi tháng. Trong khi đó, cả nước hiện có 6 nhà máy sản xuất ethanol, nhưng mới chỉ có 3 nhà máy đang vận hành thực tế. Tổng công suất lý thuyết của toàn bộ hệ thống nhà máy đạt khoảng 41.000 m³/tháng.
Tuy nhiên, với tình trạng vận hành hiện nay, công suất thực tế chỉ đạt khoảng 25.000 m³/tháng, tương đương 25–27% nhu cầu. Khi huy động tối đa các nhà máy, mức đáp ứng nhu cầu ethanol của cả nước khoảng 41%. Khoảng thiếu hụt lớn này đặt ra bài toán kép: Vừa phải tận dụng tối đa năng lực trong nước, vừa phải chủ động nguồn nhập khẩu để bảo đảm tiến độ triển khai E10.
Đáng chú ý, theo ông Đỗ Văn Tuấn, việc nhập khẩu ethanol không phải là trở ngại lớn. Nguồn cung quốc tế hiện chủ yếu đến từ Mỹ và Brazil, với khả năng vận chuyển ổn định qua các tuyến hàng hải không đi qua khu vực Trung Đông, không bị tác động trực tiếp bởi xung đột Trung Đông hiện nay. Giá ethanol cũng có mức biến động thấp hơn đáng kể so với xăng dầu.
Tuy nhiên, thách thức nằm ở yếu tố thời gian và cạnh tranh nguồn hàng. Khi nhiều quốc gia trong khu vực như Ấn Độ, Philippines, Thái Lan hay Trung Quốc đều gia tăng sử dụng xăng sinh học, áp lực lên các trung tâm trung chuyển như Hàn Quốc, Singapore sẽ ngày càng lớn. Nếu doanh nghiệp trong nước không chủ động kế hoạch nhập khẩu sớm, nguy cơ sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu, hoặc phải mua của các nước lân cận với giá cao hơn.
Khảo sát từ các doanh nghiệp cho thấy, nhiều nhà máy ethanol hoàn toàn có khả năng tăng sản lượng hoặc khôi phục hoạt động trong thời gian tới, nếu các điều kiện về tài chính và thị trường được tháo gỡ.
Tại Nhà máy Ethanol Đồng Nai, đại diện doanh nghiệp cho biết hiện nhà máy đang vận hành ổn định với công suất khoảng 250 m³/ngày, tương đương 7.000 m³/tháng và đã đạt mức tối đa. Điểm đáng chú ý là dây chuyền công nghệ của nhà máy có tính linh hoạt cao, có thể sử dụng nhiều loại nguyên liệu đầu vào như ngô, sắn lát, tấm gạo và các nguyên liệu khác, giúp chủ động hơn trong sản xuất. Nhà máy cũng đã lên kế hoạch nâng cao công suất với công suất tối đa có thể đạt khoảng 130% so với hiện nay.
Trong khi đó, Nhà máy Ethanol Dung Quất vừa chính thức đưa vào vận hành thương mại sau quá trình chạy thử và hiệu chỉnh. Hiện sản lượng duy trì khoảng 6.000 m3, tấn/tháng và có thể nâng lên khoảng 9.000 m3, tấn/tháng trong điều kiện thuận lợi.
Tuy nhiên, theo đại diện nhà máy, việc tăng công suất không chỉ phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật mà còn gắn chặt với đầu ra sản phẩm. Hiện sản phẩm chủ yếu cung cấp cho Nhà máy lọc dầu Bình Sơn, nhưng chưa có cơ chế bao tiêu toàn bộ sản lượng. Do đó, doanh nghiệp đề xuất cần có kế hoạch tiêu thụ rõ ràng từ các thương nhân đầu mối lớn để chủ động tổ chức sản xuất, từ nhân lực, thiết bị đến nguyên liệu.
Thực hiện quy định phân cấp tại Nghị định số 146/2025/NĐ-CP, ngày 7/11/2025, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam. Trong đó quy định, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành) phải phối trộn, pha chế thành xăng sinh học E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc. Tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5RON92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết ngày 31/12/2030.
Bộ Công Thương đã tích cực triển khai thực hiện Thông tư số 50/2025/TT-BCT thông qua các hội nghị phổ biến nội dung Thông tư ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam, làm việc với các hiệp hội xăng dầu và nhiên liệu sinh học, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xăng dầu và nhiên liệu sinh học lớn trong nước. Tất cả các doanh nghiệp, Hiệp hội đều ủng hộ chủ trương chuyển đổi nhiên liệu sinh học của Chính phủ, tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và các thủ tục pháp lý để thực hiện đúng và sớm hơn thời điểm quy định tại Thông tư số 50/2025/TT-BCT.
Việc Bộ Công Thương lấy ý kiến triển khai xăng sinh học E10 ngay trong tháng 4/2026 cho thấy quyết tâm đẩy nhanh chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh và bền vững. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở chủ trương mà còn ở năng lực thực thi: hạ tầng phối trộn, nguồn cung ethanol, chi phí logistics và tâm lý thị trường. Với quỹ thời gian chỉ khoảng 30 ngày, mọi khâu từ kỹ thuật đến chính sách cần vận hành đồng bộ, tránh rủi ro.











