Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn - ngọn đèn tri thức soi sáng tinh thần hiếu học
Ba trăm năm đã qua, tinh thần học tập suốt đời, tư duy độc lập, khát vọng phụng sự của Danh nhân Lê Quý Đôn cùng những trang sách của ông vẫn là tài sản quý của dân tộc cũng như các thế hệ học sinh.

Khu lưu niệm Nhà bác học Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Trong ký ức của nhiều người, Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn của Việt Nam thế kỷ 18, người để lại gần 40 bộ trước tác đồ sộ trải rộng trên nhiều lĩnh vực như sử học, địa lý, triết học, văn học, nông học, thiên văn...
Điều khiến hậu thế khâm phục không chỉ nằm ở khối lượng tri thức đồ sộ của ông mà còn ở một cuộc đời dành trọn cho việc học, nghiên cứu, khảo cứu và hệ thống hóa tri thức để phục vụ đất nước.
Đối với Lê Quý Đôn, học không phải để tô điểm tên tuổi hay chỉ để bước lên nấc thang danh vọng. Học là con đường hoàn thiện bản thân, mở mang trí tuệ, phụng sự nhân dân và làm cho quốc gia hưng thịnh.
Tư tưởng ấy của ông đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ, đặc biệt trên chính quê hương Hưng Yên - nơi đang nỗ lực gìn giữ và lan tỏa tinh thần hiếu học, xây dựng một xã hội học tập trong thời đại mới.
Từ thần đồng xứ Sơn Nam đến nhà bác học của dân tộc
Lê Quý Đôn (1726-1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.
Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, ông sớm được nuôi dưỡng trong môi trường trọng chữ nghĩa. Cha là Tiến sỹ Lê Trọng Thứ, một vị quan nổi tiếng thanh liêm, cương trực; mẹ cũng xuất thân từ gia đình có truyền thống học vấn.
Ngay từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, ham đọc sách và có trí nhớ đặc biệt. Năm 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi; 12 tuổi thông thạo kinh điển Nho học; đến tuổi thiếu niên đã đọc rộng nhiều bộ sử, sách triết học và văn chương. Người đương thời gọi ông là "thần đồng xứ Sơn Nam," nhưng phía sau tư chất thiên bẩm ấy là sự cần cù hiếm có. Ông dành phần lớn thời gian cho sách vở, không ngừng tìm tòi, ghi chép và suy ngẫm.
Con đường khoa cử của ông cũng là kết quả của quá trình học tập bền bỉ. Năm 18 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hội; ba năm sau tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Đình, đạt Đình nguyên Bảng nhãn do khoa thi không lấy Trạng nguyên. Việc đỗ đầu cả ba kỳ thi lớn đưa Lê Quý Đôn trở thành một trong số rất ít Tam nguyên của lịch sử khoa cử Việt Nam.

Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn (Hưng Yên). (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Hơn 30 năm làm quan, từ Viện Hàn lâm, Quốc sử quán đến các trọng trách ở nhiều địa phương và những chuyến đi sứ nhà Thanh, ông luôn giữ cốt cách của một trí thức tận tụy. Ông không chỉ đọc sách mà còn đi nhiều, quan sát nhiều, khảo cứu thực tế để hiểu đời sống nhân dân, điều kiện tự nhiên, phong tục, kinh tế của từng vùng đất.
Nhờ vậy, ông để lại cho hậu thế nhiều công trình có giá trị như Vân đài loại ngữ, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Quần thư khảo biện... Đây không chỉ là những tác phẩm đồ sộ về học thuật mà còn là kho tư liệu quý phản ánh lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ 18. Chỉ riêng Vân đài loại ngữ, ông đã dẫn lại hơn 550 đầu sách khác nhau, cho thấy sức đọc và khả năng tổng hợp tri thức hiếm có.
Tư tưởng giáo dục còn nguyên giá trị đến hôm nay

Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh Danh nhân Văn hóa Lê Quý Đôn. (Ảnh: TTXVN phát)
Điều khiến Lê Quý Đôn được nhiều thế hệ trân trọng là học vấn uyên bác và tư tưởng giáo dục mang nhiều giá trị vượt thời đại.
Ông luôn coi tri thức là nền tảng của sự phát triển quốc gia. Quan niệm "phi trí bất hưng"-không có tri thức và hiền tài thì đất nước không thể hưng thịnh-được ông thể hiện xuyên suốt trong các trước tác cũng như cuộc đời làm quan. Theo ông, giáo dục phải hướng đến việc đào tạo con người có năng lực, có đạo đức và biết cống hiến cho xã hội.
Lê Quý Đôn phê phán lối học chỉ chăm chăm ghi nhớ sách vở để thi cử mà xem nhẹ thực tiễn. Trong Kiến văn tiểu lục, ông từng chỉ ra rằng kiểu học ấy khiến người học thiếu bản lĩnh, thiếu trách nhiệm và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề của đất nước.
Trái lại, ông đề cao thực học, thực tài. Học phải gắn với suy nghĩ, với hành động và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Ông từng đặt câu hỏi: "Mồm đọc, bụng nghĩ trái nhau, sự biết với sự làm khác nhau... thì học cho nhiều cũng có làm gì?". Câu nói ngắn gọn nhưng đến nay vẫn gợi nhiều suy ngẫm về mục đích của việc học.

Hội thảo khoa học quốc gia "Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn-Di sản và giá trị thời đại". (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Lê Quý Đôn cũng chủ trương học tập toàn diện. Theo ông, người học không chỉ hiểu kinh điển mà còn cần mở rộng kiến thức về lịch sử, địa lý, nông nghiệp, quân sự, thiên văn, y học... để có thể giải quyết công việc trong thực tế. Chính bản thân ông là minh chứng sinh động cho quan điểm ấy khi những trước tác của ông trải rộng trên hầu hết các lĩnh vực tri thức đương thời.
Tinh thần tự học cũng được ông đặc biệt coi trọng. Ông từng khuyên người học phải quý trọng sách, chăm đọc sách nhưng không lệ thuộc vào sách; phải biết suy luận, đối chiếu với thực tế và không ngừng bổ sung kiến thức mới. Có lẽ vì vậy mà suốt cuộc đời, dù làm quan hay đi sứ, ông vẫn dành thời gian đọc, ghi chép, nghiên cứu và viết sách.
Không chỉ là nhà bác học, Lê Quý Đôn còn là một người thầy tận tâm. Ông từng mở trường dạy học, tham gia tổ chức các kỳ thi và luôn quan tâm đến việc phát hiện, đào tạo nhân tài. Với ông, giáo dục sẽ giúp một cá nhân thành đạt đồng thời cũng tạo nền tảng cho sự hưng thịnh của quốc gia.
Tiếp nối tinh thần hiếu học trên quê hương Hưng Yên

Tiết học về Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn của học sinh trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). (Ảnh: Thu Hoài/TTXVN)
Ba thế kỷ sau ngày sinh của Lê Quý Đôn, những giá trị ông để lại vẫn hiện diện trong đời sống giáo dục hôm nay. Trên quê hương Hưng Yên, truyền thống hiếu học tiếp tục được gìn giữ và phát huy bằng nhiều việc làm thiết thực.
Là vùng đất giàu truyền thống văn hiến, Hưng Yên luôn xác định giáo dục là nền tảng của sự phát triển. Tỉnh quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trường học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để học sinh phát triển toàn diện. Cùng với đó, công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, khuyến khích nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo được chú trọng, góp phần đưa nhiều học sinh đạt thành tích cao tại các kỳ thi trong nước và quốc tế.
Đối với những người dân Hưng Yên, giá trị lớn nhất trong di sản Lê Quý Đôn là khối lượng tri thức đồ sộ và tinh thần học không ngừng, học để hiểu biết, để hành động và để phụng sự. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển khoa học công nghệ, tư tưởng coi trọng tri thức, coi trọng nhân tài của ông càng có ý nghĩa sâu sắc.

Lãnh đạo tỉnh Hưng Yên tặng Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khen thưởng học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2025. (Ảnh: Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Hưng Yên)
Kế thừa tinh thần ấy, Hội Khuyến học tỉnh Hưng Yên cùng các cấp, các ngành triển khai nhiều hoạt động xây dựng xã hội học tập, phát triển các mô hình "Gia đình học tập," "Dòng họ học tập," "Cộng đồng học tập," khuyến khích mọi người học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng và khả năng thích ứng với sự thay đổi của thời đại.
Đối với học sinh hôm nay, việc học không chỉ gói gọn trong lớp học mà còn mở rộng qua sách, công nghệ số, các hoạt động trải nghiệm và nghiên cứu khoa học. Điều quan trọng nhất vẫn là giữ được tinh thần ham học, biết tự tìm tòi, biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến.
Cuộc đời của Lê Quý Đôn cho thấy tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm đối với cộng đồng và đất nước. Ba trăm năm đã qua, những trang sách ông để lại vẫn là tài sản quý của dân tộc, nhưng di sản lớn hơn chính là tinh thần học tập suốt đời, tư duy độc lập và khát vọng phụng sự. Đó cũng là hành trang mà quê hương Hưng Yên đang tiếp tục trao gửi cho các thế hệ học sinh hôm nay.
Khi mỗi học sinh biết nuôi dưỡng tình yêu tri thức, không ngừng học hỏi và dám sáng tạo, thì tinh thần của nhà bác học Lê Quý Đôn sẽ tiếp tục được gìn giữ trong sử sách và được tiếp nối bằng những thành quả mới, góp phần xây dựng quê hương và đất nước ngày càng phát triển./.












