Danh nhân Việt Nam tuổi Ngọ

Theo quan niệm tín ngưỡng truyền thống, người tuổi Ngựa (tuổi Ngọ) thường năng động, thông minh, tài giỏi và thành đạt. Trong số các danh nhân góp phần làm rạng rỡ nền văn hiến Việt Nam, có tương đối nhiều vị sinh năm Ngọ...

LÝ CÀN ĐỨC: Sinh năm Bính Ngọ 1066, quê Bắc Ninh, vị vua xuất sắc nhất thời Lý. Nổi tiếng sáng suốt, đa tài, lên ngôi lúc 6 tuổi (hiệu Nhân Tông) và trị vì liên tục 56 năm. Triều đại ông lập nhiều chiến tích rực rỡ, đập tan các cuộc xâm lược của nhà Tống. Ông đặc biệt chú trọng phát triển nền văn hóa, giáo dục và có đóng góp rất lớn cho hai lĩnh vực này.

NGUYỄN HIỀN: Sinh năm Giáp Ngọ 1234, quê Hà Nội, danh sĩ thời Trần. Cực kỳ thông minh, hiếu học, đỗ tiến sĩ ở mức cao nhất khi mới 13 tuổi, trở thành người đỗ đầu trạng nguyên sớm nhất, trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam. Làm quan tới chức Thượng thư (Bộ trưởng), ông rất được nể phục bởi kiến thức uyên bác, ứng biến mau lẹ và tính khảng khái.

Danh Y Tuệ Tĩnh. Nguồn: Internet.

TUỆ TĨNH: Sinh năm Canh Ngọ 1330, mất năm 1400 quê Hải Phòng, danh y thời Trần. Năm 1351 đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan mà tu ở chùa Nghiêm Quang, chuyên tâm nghiên cứu, viết sách y học, giáo lý, trồng cây thuốc và chữa bệnh cho nhân dân bằng thuốc Nam. Năm 1384, vua Trần phái ông đi sứ Trung Quốc, đến nơi được vua Minh cảm tài, phong hiệu Đại y Thiền sư. Ông là thầy thuốc nổi tiếng nhất trong lịch sử nước ta thời xưa và dày công xây dựng nền y học dân tộc ngay từ buổi đầu.

LÝ TỬ TẤN: Sinh năm Mậu Ngọ 1378, quê Hà Nội, danh thần thời Lê sơ. Thông tuệ, giỏi văn chương, năm 22 tuổi đỗ tiến sĩ thời Hồ. Từ khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thành công, ông phụng sự ba đời vua Lê, trải giữ nhiều chức vụ quan trọng và vào giảng dạy trong cung. Tài đức của ông rất được sĩ phu ngưỡng vọng, nhất là tính cương trực và khiếu thơ phú.

VŨ QUỲNH: Sinh năm Canh Ngọ 1450, quê Hải Phòng, nhà khoa học, danh sĩ đời Lê Thánh Tông. Đa tài, năng động, thông thái, đỗ hoàng giáp năm 1478, làm quan đến Thượng thư các bộ Lễ – Binh – Công, kiêm Tổng tài Quốc sử quán. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng trên các lĩnh vực: Đại Việt thông giám thông khảo (bộ sách lịch sử, 26 quyển), Tố cầm tập (sách dạy đàn), Đại thành toán pháp (sách toán học)...

NGUYỄN KIM: Sinh năm Giáp Ngọ 1474, quê Thanh Hóa, danh tướng, khai quốc công thần thời Hậu Lê. Can đảm, kiên định, giàu chí tiến thủ, bất phục tùng Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông lánh sang Lào khởi binh chống lại. Trở về Thanh Hóa, năm 1533 ông đưa Lê Duy Ninh lên ngôi vua, mở đầu thời kỳ Lê Trung Hưng. Sau nhiều chiến thắng vang dội, năm 1542 ông cầm quân ra Bắc tiêu diệt nhà Mạc nhưng giữa đường hy sinh vì bị đầu độc (1545). Ông là Thái tổ của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn sau này.

NGUYỄN QUÁN NHO: Sinh năm Canh Ngọ 1630, quê Hải Phòng, danh thần đời Lê Huyền Tông. Năm 1667 đỗ tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư các bộ Lại – Hình – Binh – Lễ, rồi thăng tới chức Tham tụng (tương đương Tể tướng). Ông nổi tiếng với cách xử sự nhân hậu, khoan hòa.

NHỮ ĐÌNH TOẢN: Sinh năm Nhâm Ngọ 1702, quê Hải Phòng, đại thần đời Lê Ý Tông. Năm 1736 đỗ tiến sĩ, làm quan tới chức Tham tụng, rồi chuyển sang ngạch võ, thăng đến Tả đô đốc. Tài thao lược và lòng trung thành của ông rất được vua Lê, chúa Trịnh cảm mến, trọng dụng.

NGUYỄN PHÚC KHOÁT: Sinh năm Giáp Ngọ 1714, quê Thanh Hóa, chúa thứ 8 nhà Nguyễn. Thông minh, cương nghị, nối ngôi năm 1738 (hiệu Võ Vương), được nhiều nhân tài phò tá. Ông khéo xử sự nhưng rất quyết đoán nên mọi việc nội trị, ngoại giao đều thành công tốt đẹp. Đất đai quốc gia thời ông được mở rộng đến toàn vùng Nam Bộ ngày nay.

NGÔ THÌ SĨ: Sinh năm Bính Ngọ 1726, quê Hà Nội, danh sĩ đời Lê Hiển Tông. Nhà nghèo nhưng sáng dạ, hiếu học, năm 1766 đỗ hoàng giáp, lần lượt làm quan đứng đầu các trấn: Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An..., rồi thăng tới chức Thiên đô ngự sử. Am hiểu, nhiệt tình, giao du rộng, ông được sĩ phu khắp nơi quý mến. Ông viết nhiều tác phẩm văn thơ, lịch sử và là người lập ra Ngô gia văn phái – một trường phái văn chương độc đáo của họ Ngô.

LÊ QUÝ ĐÔN: Sinh năm Bính Ngọ 1726, quê Hưng Yên, nhà khoa học, nhà văn hóa lớn thời Hậu Lê. Từ bé đã nổi danh thần đồng, cực kỳ thông tuệ, trí nhớ phi thường; năm 26 tuổi đỗ bảng nhãn, làm quan trong các lĩnh vực giáo dục, quân sự, ngoại giao, được thăng tới chức Hành Tham tụng (Quyền Tể tướng). Ông là nhà bác học có tri thức uyên thâm trên nhiều lĩnh vực: lịch sử, luật pháp, văn chương, kinh tế, xã hội, ngôn ngữ, địa lý, sinh vật, triết học... Ông để lại sự nghiệp đồ sộ với hơn 40 bộ sách gồm hàng trăm quyển.

ĐOÀN VĂN TUẤN: Sinh năm Canh Ngọ 1750, quê Hưng Yên, văn thần thời Lê mạt và Tây Sơn. Giỏi văn chương, đỗ tiến sĩ, làm quan triều Lê rồi phò trợ nhà Tây Sơn, thăng tới chức Tả thị lang. Ông nổi tiếng về sự thanh bạch và tính khiêm nhường.

NGUYỄN ÁNH: Sinh năm Nhâm Ngọ 1762, vị chúa Nguyễn cuối cùng và cũng là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Nghị lực, năng động, giàu mưu lược, ông kiên trì 25 năm chống Tây Sơn, khôi phục cơ nghiệp dòng tộc và thống nhất đất nước. Năm 1802, ông lên ngôi hoàng đế, sáng lập vương triều Nguyễn. Dưới thời ông, quốc hiệu “Việt Nam” chính thức được ghi nhận; lãnh thổ mở rộng, quốc gia thống nhất sau nhiều thế kỷ nội chiến.

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU: Sinh năm Nhâm Ngọ 1822, quê Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), nhà thơ yêu nước, nhà văn hóa lớn thời Nguyễn. Sau khi đỗ tú tài, mẹ mất, ông bỏ kỳ thi tiếp theo ở Huế để về chịu tang; dọc đường lâm bệnh và mù cả hai mắt. Ông mở trường dạy học, học trò rất đông. Khi Pháp xâm lược, ông về Bến Tre, tiếp tục dạy học, bốc thuốc và sáng tác văn thơ cổ vũ lòng yêu nước. Cuộc đời và văn chương của ông thấm đẫm tinh thần nhân đạo, nghĩa khí và tự cường.

HOÀNG HOA THÁM: Sinh năm Mậu Ngọ 1858, quê Hưng Yên, anh hùng kháng Pháp. Gan dạ, mưu lược, trung kiên, ông tham gia chống Pháp từ năm 16 tuổi. Năm 1892 trở thành thủ lĩnh phong trào Yên Thế. Ông được mệnh danh là “Hùm thiêng Yên Thế”, biểu tượng cho tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng.

TRẦN QUÝ CÁP: Sinh năm Canh Ngọ 1870, quê Đà Nẵng, danh sĩ thời Nguyễn. Năm 1904 đỗ tiến sĩ, làm quan ngành giáo dục. Ông nhiệt thành yêu nước, tích cực hoạt động duy tân, nâng cao dân trí, dân sinh. Năm 1908, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình. Văn thơ của ông giàu nhiệt huyết cách mạng, có sức lan tỏa lớn.

THÁI PHIÊN: Sinh năm Nhâm Ngọ 1882, quê Đà Nẵng, nhà yêu nước thời Nguyễn. Thông minh, sôi nổi, ông tham gia nhiều phong trào chống Pháp, lãnh đạo Hội Quang Phục Việt Nam tại miền Trung. Năm 1916, ông cùng vua Duy Tân chuẩn bị khởi nghĩa nhưng bị lộ kế hoạch và hy sinh anh dũng.

LÊ ĐÌNH BA: Sinh năm Giáp Ngọ 1894, quê Gia Lai, cao tăng (pháp danh: Thích Trí Độ). Uyên bác, đạo hạnh, ông tu học ở Bình Định và Huế. Năm 1945 ra giảng dạy tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội. Năm 1958, ông được bầu làm Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (miền Bắc) và giữ chức vụ này đến khi viên tịch (1979).

HOÀNG VĂN THỤ: Sinh năm Bính Ngọ 1906, quê Lạng Sơn, anh hùng liệt sĩ cách mạng. Dũng cảm, trung kiên, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Tháng 5/1944, ông bị thực dân Pháp bắt và anh dũng hy sinh.

NGUYỄN BÍNH: Sinh năm Mậu Ngọ 1918, quê Ninh Bình, nhà thơ nổi tiếng. Mồ côi từ nhỏ nhưng giàu nghị lực, say mê văn chương, ông sớm thành danh với phong cách thơ chân quê, mộc mạc mà tài hoa. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ của ông góp phần làm nên diện mạo đặc sắc cho thơ ca Việt Nam hiện đại.

C.H

Công Hiếu

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/danh-nhan-viet-nam-tuoi-ngo-a31978.html