'Đánh thức' di sản bằng công nghệ số: biến nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng
Di sản văn hóa không chỉ là ký ức của dân tộc mà còn là nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nếu trước đây, di sản chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn thì ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, di sản đang được "đánh thức", trở thành tài sản có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, du lịch, kinh tế sáng tạo và góp phần xây dựng sức mạnh mềm quốc gia.
Khi di sản trở thành "tài sản số"
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh rằng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới phải dựa trên ba trụ cột quan trọng là khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy sức mạnh văn hóa Việt Nam. Văn hóa phải được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, trở thành sức mạnh mềm và nguồn lực nội sinh để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số mở ra cơ hội "đánh thức" những giá trị tưởng như đang ngủ yên trong kho tàng di sản. Mỗi hiện vật được số hóa, mỗi công trình được dựng mô hình 3D, mỗi bảo tàng ảo hay mỗi tour tham quan bằng thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR) đều giúp di sản vượt qua giới hạn không gian và thời gian, tiếp cận hàng triệu người thay vì chỉ những du khách trực tiếp đến tham quan.
Nếu trước đây, bảo tồn chủ yếu nhằm gìn giữ nguyên trạng thì ngày nay, bảo tồn gắn với khai thác bền vững. Công nghệ số giúp di sản vừa được lưu giữ lâu dài, vừa tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, góp phần phát triển du lịch, công nghiệp sáng tạo và kinh tế số.
Đó cũng là tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW khi xác định cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa hiện đại, khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa và di sản dân tộc để tạo ra giá trị gia tăng.
Hiệu quả của mô hình kết hợp giữa di sản và công nghệ số
Thực tế cho thấy nhiều địa phương đã bước đầu chứng minh hiệu quả của mô hình kết hợp giữa di sản và công nghệ số.
Tại Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nhiều năm qua triển khai số hóa Hoàng thành, Đại Nội, hệ thống cổ vật, tư liệu Hán Nôm, ứng dụng thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, tham quan thực tế ảo và trình diễn ánh sáng số. Công nghệ giúp kéo dài thời gian trải nghiệm của du khách, đồng thời tạo thêm nhiều sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng.

Khách tham quan trưng bày ở Tuần Lễ chào mừng Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế . Ảnh: Nguyên Lý - TTXVN
Hà Nội đang xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với hệ thống di tích, bảo tàng, làng nghề, di sản phi vật thể; nhiều điểm đến như Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Nhà tù Hỏa Lò đã ứng dụng công nghệ 3D Mapping, audio guide và tour đêm kết hợp công nghệ trình chiếu, tạo nên những sản phẩm văn hóa đặc sắc thu hút đông đảo khách tham quan.
Quảng Ninh đưa công nghệ số vào quảng bá Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long thông qua bản đồ số, ứng dụng du lịch thông minh, hệ thống quản trị điểm đến và các nền tảng quảng bá trực tuyến.
Ninh Bình đẩy mạnh số hóa Quần thể danh thắng Tràng An, kết nối dữ liệu du lịch thông minh, hỗ trợ du khách tiếp cận thông tin bằng nền tảng số, góp phần nâng cao trải nghiệm và kéo dài thời gian lưu trú.
Tại TP Hồ Chí Minh, nhiều bảo tàng đã triển khai bảo tàng số, số hóa hiện vật, triển lãm trực tuyến và ứng dụng công nghệ thực tế ảo nhằm tiếp cận giới trẻ cũng như khách quốc tế.
Điểm chung của các địa phương là không coi số hóa chỉ để lưu trữ dữ liệu, mà xem đó là nền tảng để hình thành những sản phẩm văn hóa mới, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị kinh tế của di sản.

Không gian trưng bày tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội
Du lịch tiếp tục là lĩnh vực hưởng lợi trực tiếp từ chuyển đổi số trong khai thác di sản. Năm 2025, riêng TP Hồ Chí Minh ước đón khoảng 8,5 triệu lượt khách quốc tế, 45 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt khoảng 260.000 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng khách quốc tế đến với Thành phố tiếp tục tăng trưởng mạnh, với 6,4 triệu lượt khách, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 58,1% kế hoạch cả năm. Doanh thu du lịch tăng trưởng ấn tượng, ước đạt 213.980 tỷ đồng, tăng tới 63,9% so với cùng kỳ năm 2025 và hoàn thành 64,8% kế hoạch doanh thu cả năm là 330.000 tỷ đồng.
Hà Nội cũng ghi nhận tăng trưởng mạnh về khách quốc tế và doanh thu nhờ các sản phẩm du lịch văn hóa, di sản và trải nghiệm số. Hà Nội đón hơn 18 triệu lượt khách trong 6 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế tăng gần 27% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp văn hóa đang trở thành động lực tăng trưởng mới. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2018-2022, giá trị sản xuất các ngành công nghiệp văn hóa ước đạt trên 1 triệu tỷ đồng, đóng góp khoảng 4-5% GDP; đến năm 2025, mức đóng góp bình quân đạt khoảng 6,5-7,5% GDP và Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2045 nâng tỷ trọng này lên khoảng 9% GDP.
Công nghiệp văn hóa cần "nguồn nguyên liệu" là di sản
Theo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, di sản chính là "nguyên liệu đầu vào" quan trọng cho nhiều lĩnh vực như điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, thời trang, nghệ thuật biểu diễn hay du lịch văn hóa.
Trong nhiều năm qua, du lịch văn hóa luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng khách du lịch đến Việt Nam. Các trung tâm di sản như Huế, Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình hay TP Hồ Chí Minh đều ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ của ngành du lịch sau đại dịch COVID-19, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Cùng với đó, công nghiệp văn hóa đang từng bước gia tăng tỷ trọng trong GDP, trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới mà Nghị quyết 80-NQ/TW đặt nhiều kỳ vọng.

Không gian văn hóa trải nghiệm tại đường sách Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, tiềm năng vẫn còn rất lớn. Việt Nam sở hữu hàng chục nghìn di tích, hàng trăm bảo vật quốc gia, hàng chục di sản thế giới được UNESCO ghi danh cùng kho tàng di sản phi vật thể phong phú. Nếu chỉ dừng lại ở bảo tồn truyền thống, nguồn tài nguyên này sẽ chưa phát huy hết giá trị.
Trong khi đó, với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ số có thể tạo nên hệ sinh thái kinh tế hoàn toàn mới: bảo tàng số, sản phẩm giáo dục số, phim hoạt hình, trò chơi điện tử, mô hình thực tế ảo, sản phẩm lưu niệm số, nền tảng trải nghiệm trực tuyến... Từ một di tích có thể hình thành chuỗi giá trị kéo dài từ sáng tạo nội dung, truyền thông, thương mại điện tử đến dịch vụ du lịch.
"Đánh thức" di sản bằng công nghệ số vì thế không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà là tư duy phát triển mới: coi di sản là nguồn lực nội sinh, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực, để biến những giá trị văn hóa ngàn đời thành nguồn lực bền vững cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Khi những di sản nghìn năm được "đánh thức" bằng công nghệ số, chúng không chỉ kể lại câu chuyện của quá khứ mà còn mở ra những cơ hội phát triển cho tương lai. Đó cũng chính là con đường để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng như tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập.











